ung thư phổi không phải là một bản án tử hình chờ ngày phán quyết mà là một cuộc đấu tranh trường kỳ về thể chất và tinh thần. Một cuộc đấu tranh tuy vất vả và mệt mỏi nhưng bệnh nhân không đơn độc khi vẫn có những nghiên cứu y học mới đang được tiến hành.
Các loại ung thư phổi
Ung thư phổi là một căn bệnh có nguy cơ tử vong rất cao. Trung bình mỗi năm tại Singapore có 1.176 người được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư phổi và 1.028 người qua đời vì nó, có nghĩa là chỉ có 12,5% số người được xác định ung thử phổi khỏi bệnh sau quá trình điều trị và theo dõi.
Khoảng 15% bệnh nhân ung thư phổi mắc phải dạng ung thư phổi tế bào nhỏ (dạng nguy hiểm nhất) mà nguyên nhân chủ yếu là thuốc lá. Loại tế bào này có tốc độ lan rất nhanh, nó có thể di căn tới rất nhiều bộ phận khác trên cơ thể nên rất khó có thể loại bỏ triệt để các khối u bằng phương pháp phẫu thuật. Hóa trị và xạ trị là những biện pháp thường được lựa chọn trong việc điều trị loại tế bào này.
85% bệnh nhân ung thư phổi còn lại thuộc dạng ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, có thể chia thành ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô vảy và ung thư tế bào lớn. Những loại tế bào này phát triển chậm hơn loại tế bào nhỏ. Tỷ lệ chữa trị thành công đối với bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến là cao nhất, sau đó đến ung thư biểu mô vảy và cuối cùng là ung thư tế bào lớn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì phương pháp điều trị thường là tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ khối u và như vậy cơ hội chữa trị triệt để sẽ cao hơn rất nhiều.
-
Ung thư dạ dày là một bệnh ác tính của tổn thương dạ dày, nguyên nhân chưa rõ ràng, tiến triển nhanh, chẩn đoán sớm khó khăn, tiên lượng nặng, chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.
I. ĐẠI CƯƠNG:
Ung thư dạ dày là một bệnh ác tính của tổn thương dạ dày, nguyên nhân chưa rõ ràng, tiến triển nhanh, chẩn đoán sớm khó khăn, tiên lượng nặng, chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu
1. Dịch tễ học:
Sự thường gặp:
+ Đứng hàng thứ 1/3 trong các ung thư và chiếm 40% ung thư hệ tiêu hoá.
+ Tỷ lệ tử vong cho 100.000 dân ở một số nước:
Nhật Bản: 66,7% Nouvell Selande: 16,5%
Chi lê: 56,5% Autralia: 15,5%
Áo: 40% Phần Lan: 35,7%
+ Ở Việt Nam: 17,2% (P.T.Liên 1993 thấy 340 ca UTDD/1974 ca ung thư các loại). Năm 1994 N.Đ.Đức báo cáo một thống kê bệnh ung thư ở Hà Nội trong 5 năm (1988-1992) cho biết ung thư hệ tiêu hoá chiếm 31% tổng số ung thư ở cả hai giới trong đó có 14,5% là UTDD. Tuổi thường gặp: 50-60, các tuổi khác ít gặp hơn.
Giới: nam gặp nhiều hơn nữ (tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 2/1,5)
Cơ địa dễ UTDD:
Người có nhóm máu A có tỷ lệ UTDD cao hơn các nhóm máu khác.
Người viêm DD mạn tính thể teo nhất là có thể dị sản ruột và viêm dạ dày mạn tính của bệnh thiếu máu Biermer (6-12%), các bệnh nhân này dễ bị ung thư dạ dày.
Bệnh Polyp to >2cm ở dạ dày.
Yếu tố di truyền: gia đình có người bị K dạ dày sẽ bị ung thư dạ dày nhiều gấp 4 lần các gia đình khác (Vida Beek Mosbeeck).
Các yếu tố khác: địa dư, hoàn cảnh sống, sự chế biến thức ăn (xào, rán, nướng chả, hun khói dự trữ...).
Vai trò của Nitrosamin, Helicobacter Pylori.
2. Phân loại:
Theo OMS 1977 chia UTDD thành 2 nhóm lớn:
UTDD dạng biểu mô (Carcinoma)
UTBM tuyến (Adenocarcinoma): tuyến nhú - tuyến ống - chế nhày - tế bào nhẫn.
UTBM không biệt hoá (Undifferentated carcinoma).
Một số loại ít gặp: ung thư tuyến biểu bì...
Ung thư không biểu mô gồm các Lipomas các Sarcome của cơ, mạch và đặc biệt là u lympho ác tính.
Trong thực tế dạng UTDD hay gặp là UTDD biểu mô.
Ung thư gan là một nhóm bệnh hoặc căn bệnh được di truyền và khiến tế bào trong người thay đổi một cách không thể kiềm chế được. Tế bào ung thư độc có thể xâm lấn vào những mạch máu và bạch huyết, lan tràn qua những bộ phận khác của cơ thể và từ đó tiếp tục lớn lên, cản trở những cơ năng bình thường của bộ phận đó.
Ung thư gan gồm có hai loại, một loại bắt nguồn từ gan (gọi là ung thư gan hạng nhất) và một loại bắt nguồn từ những bộ phận khác trong người nhiễm độc gan (được gọi là ung thư gan di căn hoặc ung thư gan hạng nhất). Ung thư gan hạng nhất bắt đầu trong gan. Những chức vụ của bộ phận gồm có:
- Tích trữ vitamin và chất dinh dưỡng.
- Trao đổi chất dinh dưỡng trong cơ thể.
- Kiểm soát mức đường trong máu.
- Phát xuất yếu tố đông máu.
- Khử hoạt tính của thuốc độc và những loại hóa chất khác..
Ung thư gan là một trong những loại ung thư phổ biến nhất đồng thời cũng rất khó điều trị do việc phát hiện bệnh thường ở giai đoạn trễ.
Hơn nữa, khối u thường xuất hiện trên lá gan đã ở tình trạng ốm yếu do các bệnh viêm gan mạn tính trước đó, gây ra nhiều khó khăn trong việc điều trị. Tuy nhiên giờ đây, bằng việc chọn đúng và kết hợp nhiều phương pháp tiên tiến, các bệnh nhân ung thư gan vẫn có cơ hội sống cao.
Bác Đặng Ngọc Thuận (sinh năm 1954, ở Quy Nhơn) bị nhiễm virus viêm gan B trên 5 năm nhưng không theo dõi. Đầu năm 2012, bác thấy đau tức vùng hông phải, ăn uống kém và sụt cân. Nhờ sự tư vấn của một người hàng xóm từng bị ung thư gan và đã điều trị thành công tại Trung tâm Điều trị Gan và Cấy ghép Gan Á Châu (Singapore) từ nhiều năm trước, bác đã tìm đến trung tâm chuyên khoa Gan Á Châu chi nhánh tại TP.HCM để khám và được các bác sĩ tại đây chẩn đoán bị ung thư gan.
Khối u khi phát hiện đã rất to. Đây là một cú sốc với bác và gia đình bởi qua thông tin trên các phương tiện truyền thông thì trường hợp của bác là một ca khó và bệnh ung thư gan khi phát hiện trong giai đoạn muộn việc điều trị rất ít hy vọng: thông thường thời gian sống trung bình từ khi phát hiện chỉ khoảng 6 tháng và chỉ khoảng 1% bệnh nhân có cơ may sống sót sau 5 năm...
Tuy nhiên được sự tư vấn tận tình của các bác sĩ tại phòng khám chuyên khoa Gan Á Châu, bác đã quyết định sang Trung tâm Điều trị Gan và Cấy ghép Gan Á Châu (Singapore) điều trị và được các bác sĩ hàng đầu Singapore phẫu thuật cắt một phần gan phải, đồng thời điều trị viêm gan siêu vi B.
Bác Thuận chia sẻ: “Khi sang đến Singapore tôi được các bác sĩ chẩn đoán và được phẫu thuật bởi bác sĩ Tan Kai Chan và các bác sĩ của trung tâm. Ca phẫu thuật thành công, 3 ngày sau tôi đã có thể đi lại và sau 6 ngày sức khỏe của tôi đã khá hơn rất nhiều. Tôi được xuất viện và trở về Việt Nam. Hiện tại sức khỏe của tôi rất ổn định, chức năng gan hồi phục khá tốt và tôi có thể sinh hoạt như một người bình thường. Trong suốt quá trình điều trị tại Singapore, tôi biết rằng Trung tâm Điều trị Gan và Cấy ghép Gan Á Châu (Singapore) đã phẫu thuật rất nhiều và hầu hết đều thành công. Tôi hy vọng có thể chia sẻ thông tin này để những bệnh nhân ung thư gan có thể biết được nơi điều trị tốt”.
Những trường hợp điều trị ung thư gan thành công như bác Thuận chính là nhờ việc áp dụng phương pháp điều trị hợp lý cùng với việc cải thiện sức khỏe lá gan.
Điều trị ung thư gan cho đến nay vẫn được xem là vấn đề rất khó khăn và cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa như: ung thư, chẩn đoán hình ảnh, ngoại khoa, ghép tạng và chuyên khoa gan. Rất nhiều bệnh nhân có thể chết trong quá trình điều trị do tình trạng suy gan, do vậy, điều quan trọng vẫn là sự phối hợp điều trị và cải thiện sức khỏe của lá gan. Hơn nữa, việc tầm soát phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm sẽ đem lại nhiều hy vọng chế ngự thành công căn bệnh nan y này.