Trang 5 trên tổng số 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 345
Từ 41 tới 48 trên tổng số 48 kết quả

Đề tài: một phương pháp mã hóa tiếng Việt

  1. #41
    Ngày gia nhập
    08 2017
    Bài viết
    3,096

    Mặc định một phương pháp mã hóa tiếng Việt

    Chữ viết không đủ ghi các sắc thái của ngôn ngữ.

    chẳng phải một chính khách đang nổi tiếng, trước bàn dân thiên hạ đọc lên cờ lờ vờ, cờ lờ mờ vờ đó sao?

    đã lâu ít dùng tới, nhớ mài mại là âm tắc có 2 thanh, ví dụ ớt/ợt (sắc, nặng) mà không có ơt/ờt/ởt/ỡt (không, huyền, hỏi, ngã) ...

  2. #42
    Ngày gia nhập
    01 2008
    Nơi ở
    Rất đông người
    Bài viết
    577

    Đấy là vần khép, nghĩa là vần tận cùng bằng phụ âm điếc. Xem bài #3.
    -...- -.- .. .-.. .-.. - .... . -... . .- ... - .-.-.

  3. #43
    Ngày gia nhập
    08 2017
    Bài viết
    3,096

    Một câu chuyện về tiếng nói, con người xứ Quảng:
    Có boa ông du kích, bữa nớ giẹt hén lên coàng.
    Một ông trồi đàu lên loa: “Mỹ hén xua xe teng lên mấy ông quơi.”
    Ông thứ hưa trồi đàu lên noạt: “Xe teng mô moà xe teng, cứa nớ kêu bèng thiết giốp.”
    Ông thứ boa loa: “Hưa ông núa cứa chi mô rứa, loà xe bạc thếp.”

    Cữa miết, Mỹ hén béng cứa đùng: boa ông chếch nghét.
    Xuống âm phủ, Diêm vương hủa reng chết.
    Boa ông núa: “Chết quoan troặng chi, chừ Diêm Vương phoán cứa xe nớ kêu xe chi, đúng thì tụi ni chếch nhắm mét.”
    Diêm vương đập boàn loa lớn: “Không phửa xe teng, ko phửa thiết giốp, chẻng phửa xe bạc thếp chi hết. Moà hén phửa kêu loà Thiết Vẹn Xoa.”
    Boa ông ko chịu cữa lựa, nghe núa cữa tới chừ chưa xong!!!
    PS: Nếu Ada không hài lòng, tôi sẽ xóa reply này, lập topic khác bàn về nó.

  4. #44
    Ngày gia nhập
    01 2008
    Nơi ở
    Rất đông người
    Bài viết
    577

    Mình không nghĩ có giọng Quảng nào thế này. Quảng Bình, Quảng Trị khỏi bàn. Quảng Nam, Quảng Ngãi thì cùng lắm là giống một nửa thôi.
    -...- -.- .. .-.. .-.. - .... . -... . .- ... - .-.-.

  5. #45
    Ngày gia nhập
    01 2008
    Nơi ở
    Rất đông người
    Bài viết
    577

    Hai ngày nghỉ vừa rồi, mình đọc được 5 chương của Andrea Hoa Pham 2001 [4].

    Khái niệm "thanh" (trong ngôn ngữ học) tiếng Anh gọi là "tone". Từ "tone" trong tiếng Anh phổ thông có 2 nghĩa là điệugiọng. Khi đi với "du dương", "trầm bổng", "thánh thót", "rộn ràng", nó là điệu. Nhưng khi đi cùng với "thiết tha", "thổn thức", "hùng hồn", "hống hách", thì nó là giọng.

    Andrea [4] khẳng định rằng thanh gồm có cả điệu (contour) và giọng (phonation). Và trong 2 nét [khu biệt] ấy, giọng là nét chính. (1)

    Về cơ bản, điều này thật ra không mới. Từ 4 thế kỷ trước, A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đã gọi các thanh của tiếng đồng bằng Bắc Bộ là "giọng", chứ không phải "điệu". Đó không phải là nhầm lẫn dịch thuật. Có thể khẳng định từ "giọng" người dịch đã dùng là hoàn toàn xác đáng, và đã chuyển ý của Đắc Lộ hoàn toàn đúng, sau khi đọc bài phân tích của Nguyễn Văn Lợi [5]. Một điều đáng nói, Đắc Lộ mô tả thanh nặng là "tiếng từ đáy ngực", "nặng trĩu hay cực nhọc", mô tả thanh hỏi là "nhẹ", "uốn cong" và "nhẹ nhàng", mô tả thanh ngã là "uốn cong" và "tiếng từ đáy ngực" [5]. Vậy, thực chất, ông đã tả rằng hỏingã giống nhau ở nét "uốn cong" và khác nhau (đối lập nhau) ở chỗ hỏi thì nhẹ, ngã thì nặng. Trong quan niệm của ông, "nặng/nhẹ" khác với "thấp/cao", một cặp đối lập khác (về cao độ, tần số) mà ông cũng đã dùng. Đáng nói hơn, trong thi pháp cổ truyền [bài #40] vốn có từ 10 thế kỷ trước đó nữa, hỏi, ngã được xem là một thanh, nhưng hỏi thì nổi (phù), ngã thì chìm (trầm). Tất nhiên "chìm/nổi" không thể hiểu là "thấp/cao", mà phải là "nặng/nhẹ". Theo nghĩa này, đối lập hỏi/ngã của Đắc Lộ giống như thi pháp.

    Mới là ở việc chọn và ghép các mảnh thành một bức tranh chặt chẽ. Tác giả Andrea đã kể ra hết những thuyết của những học giả đi trước và lần lượt chỉ ra từng điểm yếu, vô lý, sơ hở, hay còn bỏ ngỏ, rồi lần lượt lý giải lại những hiện tượng đã được "lý giải" bởi các thuyết [đã sụp đổ] kia. Lý giải bằng thuyết mới của bà. Một cách thuyết phục.

    Trong những hiện tượng ấy, đáng nói là hiện tượng hỏi thì thấp, ngã thì cao, được thừa nhận rộng rãi đương thời (cuối thế kỷ 20). Như thi pháp (và Đắc Lộ), nhiều học giả thừa nhận hiện tượng hỏi thì nổi, ngã thì chìm (ca dao, từ láy là ví dụ minh chứng). Khác thi pháp hay Đắc Lộ, nhiều học giả ngộ nhận rằng (chìm, nổi) = (thấp, cao), tức (nặng, nhẹ) = (thấp, cao). Trong quan niệm này, sự tồn tại đồng thời hai hiện tượng trên hiển nhiên là nghịch lý.

    Sau đây là vài điều mình thu hoạch được sau khi đọc (5 chương đầu). Để đơn giản, mình chỉ viết về mô hình âm vị, bỏ qua mô hình ngữ âm.

    1. Điệu là nét lớn, tức dáng điệu bằng, lên, xuống,... của [tần số chính phụ thuộc thời gian của] âm thanh. Giống như giai điệu của bản nhạc. Nghe xong một bản nhạc, ta có thể tái hiện giai điệu của nó bằng cách đánh đàn, thổi kèn, huýt sáo, xướng âm,...

    2. Giọng là nét tinh tế của âm thanh, đặc trưng cho cấu âm (các cơ quan phát âm và tư thế của chúng lúc phát ra âm ấy). Giống như âm sắc của nhạc cụ. Nghe một bản nhạc, ta có thể biết nó đã được chơi bằng nhạc cụ nào, thùng đàn làm bằng chất gì, dây đàn căng hay trùng, v.v. vì mỗi nhạc cụ có âm sắc riêng. Vì là nét tinh tế, nghĩa là dao động không điều hoà, thậm chí không tuần hoàn, để xác định giọng phải tách rất nhiều tần số phụ.

    3. Điệu được mã hóa bằng 1, 2 hoặc 3 dấu chấm mà chúng ta có thể hình dung như những nốt nhạc. Một nốt mã hoá thanh bằng. Hai nốt khác nhau mã hóa thanh lên hay xuống. Ba nốt, với nốt giữa khác hai nốt còn lại, mã hóa thanh "gãy khúc", tức thanh lên xuống, hay xuống lên.

    4. Giá trị (cao độ, tần số) tuyệt đối của nốt nhạc không quan trọng. Nghĩa là không có tác dụng khu biệt [âm vị]. Nói riêng, Andrea xác định hỏingã đều thấp. Song ý bà là cao độ hai thanh này không thể so sánh được với nhau vì kết quả so sánh bất nhất (ở mỗi âm tiết một khác, mỗi người một khác). (Nếu cao độ xác định và phân biệt một cách nhất quán ở mọi âm tiết và mọi người thì "hỏi thấp, ngã cao" hoặc "hỏi cao, ngã thấp" đã trở thành quy luật và cao độ đã trở thành nét khu biệt rồi. Theo định nghĩa của chính bà, mọi nét phân biệt một cách có quy luật đều là nét khu biệt.) Bà đã bác bỏ "quy luật" hỏi thì thấp, ngã thì cao bằng phản ví dụ. Giả thuyết rằng cao độ là 1 nét khu biệt, do thế, đã sụp đổ theo. (2)

    5. Thật ra, lên hay xuống cũng không quan trọng. Lên xuống cốt sao để người nghe nhận ra có sự biến đổi hay không và biến đổi mấy lần, để nghe ra thanh có mấy nốt nhạc mà thôi (1, 2, hay 3 nốt). Vậy, nét khu biệt ở đây là số nốt nhạc. Đây chỉ là ý kiến riêng của mình. Ý này mình có sau 1 thí nghiệm nhanh: nói tiếng Ba Vì với một bạn người Long An chưa từng nghe thứ tiếng này, và bạn ấy hiểu không sai từ nào.

    6. Tương ứng với thanh sắcnặng, điệu có thêm nét chặn âm (obstruent), là một nét nhị phân, tức chỉ có 2 giá trị có/không. Nếu có, đó là thanh sắc hay thanh "nặc"; nếu không, thì là thanh "sắng" hay thanh nặng. (3)

    7. Giọng có thể là giọng chuẩn (modal), nói nôm na là không giọng, giọng thì thào (breathy), nôm na là ào, hay giọng kẽo kẹt (creaky), nôm na là ạt.

    8. Thật ra, giọng gì, bao nhiêu giọng cũng không quan trọng. Khu biệt chỉ là hay không giọng, nôm na là có "ào ạt" hay không mà thôi. Một lần nữa, đây chỉ là ý kiến riêng của mình. Mình có ý kiến này do nhận thấy ngoại trừ trường hợp 2 thanh gãy, việc đổi giọng của 1 thanh từ ào thành ạt hay ngược lại không làm cho thanh ấy bị hiểu nhầm ra thanh khác. (Còn 2 thanh gãy được phân biệt với nhau nhờ có hay không giọng ạt. Giọng ào không có tác dụng khu biệt.) (4)

    9. Về giọng, thanh không giọng (giọng chuẩn) tương ứng với bậc "phù", thanh có giọng (ào, ạt) tương ứng với bậc "trầm" trong mô hình thi pháp cổ truyền [bài #40].

    10. Về điệu, một nốt nhạc tương ứng với thanh bằng, hai nốt nhạc tương ứng với thanh khứ, ba nốt nhạc tương ứng với thanh gãy, hai nốt nhạc có chặn âm tương ứng với thanh nhập trong mô hình thi pháp cổ truyền.

    11. Vậy, về mặt toán học, giọng có thể mã hóa bằng 1 bit, điệu bằng 2 bit. Trong mã C và mã D, hai bit đầu của mã thanh chính là điệu, bit cuối là giọng.

    12. Đó là thanh trong tiếng Hà Nội. Thanh của phương ngữ khác có thể thu được từ tiếng Hà Nội bằng cách biến thanh (biến điệu, biến giọng, hay biến cả hai). Xem các ví dụ về phương ngữ mà tác giả Andrea đã phân tích, các phương ngữ ở phía Bắc đèo Hải Vân (5) dường như đều cùng thanh giọng (chỉ khác thanh điệu) với tiếng Hà Nội và các phương ngữ ở phía Nam đèo Hải Vân dường như đều cùng thanh giọng với tiếng Sài Gòn (6). Trong tiếng Sài Gòn hỏi = ngã, nên dĩ nhiên thanh giọng Hà Nội và Sài Gòn khác nhau (7).

    13. Điều đó giải thích vì sao, chẳng hạn, người Quảng Bình, Quảng Trị có thể nói tiếng Hà Nội dễ dàng (nếu cần) và người Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng có thể làm điều tương tự với tiếng Sài Gòn.

    Kết quả của luận văn [4] cũng được trình bày cô đọng trong bài viết [1]. Chú ý rằng Bảng thứ nhất của [1] trùng với Bảng 68 của [4], và Bảng thứ hai của [1] trùng với Bảng 72 của [4], nghĩa là đặc tính cơ bản về ngữ âm, âm vị ở hai tư liệu được mô tả giống hệt nhau. Nếu có khác chăng chỉ là ở vài chi tiết nhỏ.






    Tư liệu (tham khảo)

    [5] Nguyễn Văn Lợi: Sự hình thành cách ghi thanh điệu chữ Quốc ngữ. Viện ngôn ngữ học. 2018. (Website Viện ngôn ngữ học, thuộc Viện hàn lâm khoa học VN, đã bị xoá sổ. Nhưng bài viết đã được đăng lại trên nhiều Website khác. Bạn đọc tự tìm.)




    ________________
    (1) Đó là lý do mình chỉ dùng từ "thanh" mà không dùng từ "thanh điệu" trong suốt loạt bài (ngoại trừ bài này, nơi "thanh điệu" chỉ điệu của thanh), bất chấp từ sau đã trở thành thuật ngữ chuẩn của ngôn ngữ học VN, thay thế cho từ đầu, từ mấy chục năm qua.

    (2) Nhưng đến tận ngày nay, vẫn có những tác giả cố chứng minh "quy luật" này. Giá trị trung bình, như [3,5], là một "chứng minh" phổ biến.

    (3) Trèo rào sang ngữ âm, tính tự âm (sonorant), tức không chặn âm, được thực thi bằng một âm mũi [hữu thanh], còn tính chặn âm được thực thi bằng một âm tắc [vô thanh], đúng như Monre đã nói ở trên. Trở về chủ đề, nếu bỏ nét chặn âm ra khỏi thanh vị và đem nó chèn vào âm vị của âm cuối (có thể dưới một tên khác, chẳng hạn "vô thanh"), thì lại thu được mô hình 6 thanh chính thống.

    (4) Sau [4], vài học giả đề xuất một số giọng khác đặt tên theo cấu âm, thậm chí cả pha (thời điểm phát thanh, tương đối) và trường độ, làm nét khu biệt. Chú ý rằng "trường độ" ở đây không phải là của thanh mà là của 1 đoạn nào đó của thanh thôi. Thanh bao trùm vần, thậm chí bao trùm cả âm tiết (theo mô hình chính thống) và thực nghiệm từ 60 trước, được xác nhận lại bởi [2,4], cho thấy trường độ của mọi vần, mọi âm tiết là hằng.

    (5) Ngoại trừ Huế. Có ít nhất 5 thanh trong số 8 thanh Huế khác với Hà Nội ở thanh điệu và trong thanh giọng Huế, hỏi thì nặng mà ngã thì nhẹ (đây là cảm nhận riêng của mình) nên thanh giọng Huế khác Hà Nội. Đa số học giả đều nhất trí ở Huế ngã = hỏi, nghĩa là về thanh giọng, Huế có lẽ giống Sài Gòn. Mặt khác, âm vần Huế giống Sài Gòn. Vậy, nếu chỉ phân loại các phương ngữ thành 2 miền, Huế thuộc miền Nam.

    (6) Khả năng giải thích được quan hệ giữa hai phương ngữ lân cận về địa lý, lịch sử là một tiêu chí phân biệt các thuyết âm vị "xịn" và "dỏm". Thanh hỏingã rất khác nhau ở Hà Nội và giống nhau về thanh điệu ở Thanh Hoá. Nhưng một người không biết nghe bản ghi âm tiếng Hà Nội đầu thế kỷ 20 rất có thể sẽ lầm tưởng ấy là tiếng Thanh Hoá.

    (7) Trước và sau [4], vài học giả (quốc tế) đã nhận xét ở tiếng Sài Gòn (hay "tiếng miền Nam") thanh giọng không phải là nét khu biệt hoặc ít ra không phải là nét chính [3]. Nhưng điều đó không có nghĩa là thanh giọng Sài Gòn "yếu hơn" Hà Nội. Thậm chí ngược lại, trong một số trường hợp [3, Hình 4.13].
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi Ada : 10-08-2019 lúc 11:53 AM.
    -...- -.- .. .-.. .-.. - .... . -... . .- ... - .-.-.

  6. #46
    Ngày gia nhập
    01 2008
    Nơi ở
    Rất đông người
    Bài viết
    577

    Mặc định một phương pháp mã hóa tiếng Việt

    A Lịch Sơn Đắc Lộ viết giống như Francisco de Pina. Tư liệu [6] có trích dẫn cả 2 ông.

    Đáng chú ý, trong nguyên bản (tiếng La-tinh), thanh sắc được Pina mô tả là bén [nhọn] còn Đắc Lộ mô tả là [nét] (hoặc nổi bật). Nhưng trong bản dịch tiếng Việt, cả 2 ông đều mô tả thanh sắc là "giọng cao". Dịch thuật này (từ tiếng La-tinh sang tiếng Việt, có lẽ thông qua tiếng Anh) minh hoạ cho cảm nhận nổi/chìm (tức nhẹ/nặng) là cao/thấp, mà mình đã khẳng định là ngộ nhận, ở bài trên.

    Đọc kỹ đoạn mô tả 6 thanh tiếng Việt, có thể đoán 2 ông dường như cảm nhận ngang, huyền không có "giọng" gì còn hỏi, ngã, sắc, nặng có "giọng" nhất định, biểu hiện một tâm trạng, cảm xúc nhất định; nghĩa là thanh "không giọng" là 2 thanh bằng còn thanh "có giọng" là 4 thanh trắc. Trong đó, hỏi thì nhẹ, ngã thì nặng, như đã phân tích ở bài trên.



    Tư liệu (tham khảo)

    [6] Gonçalo Fernandes, Carlos Assunção: Nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ XVII: Miêu tả thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha vào chính tả tiếng Việt. Văn hóa Nghệ An. 2018. http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/nghien-cuu-dau-tien-ve-tieng-viet-cua-cac-nha-truyen-giao-the-ky-xvii-mieu-ta-thanh-dieu-va-anh-huong-cua-tieng-bo-dao-nha-vao-chinh-ta-tieng-viet
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi Ada : 13-08-2019 lúc 10:06 AM.
    -...- -.- .. .-.. .-.. - .... . -... . .- ... - .-.-.

  7. #47
    Ngày gia nhập
    01 2008
    Nơi ở
    Rất đông người
    Bài viết
    577

    Thứ tự sắp xếp chính tả ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng phản ánh thứ tự thi pháp, là bình, thướng, khứ.

    Thế nhưng thứ tự bình, thướng, khứ cũng là "ngang, sắc, hỏi" và "huyền, nặng, ngã", vốn là thứ tự thanh trong luật hài thanh của từ láy.

    Vậy, có hai quan điểm khác nhau. Theo quan điểm thứ nhất, thướngsắc, nặng còn khứhỏi, ngã, chẳng hạn [7, tr.110, Bảng 4.1]. Theo quan điểm thứ hai, thướnghỏi, ngã còn khứsắc, nặng, chẳng hạn [4, tr.148, Bảng 52], nghĩa là thướng, khứ đã đổi chỗ cho nhau. Trong loạt bài, mình đã dùng tên gãy (thướng) và khứ theo quan điểm thứ hai.

    Khi đã có hai cách gọi tên, tất nhiên mỗi cách phải có lý lẽ của mình.

    Tiêu biểu cho quan điểm thứ nhất là Haudricourt 1954. Nó phản ánh sự sắp xếp thứ tự theo độ phức tạp của thanh, nói rõ hơn, của thanh điệu trong mô hình âm vị, cụ thể là số nét lên/xuống, hay số "nốt nhạc" [bài #45]. Haudricourt đã chứng minh sự tương ứng dựa vào từ vựng cơ bản của tiếng Việt và tiếng Hán, nói nôm na là các từ thuần Việt gốc Hán, được "thuần hóa" từ hơn 1 nghìn năm trước.

    Tiêu biểu cho quan điểm thứ hai là Phan Khôi 1954. Ông không chứng minh cụ thể, nhưng dữ liệu chứng minh có thể tìm thấy từ Nguyễn Tài Cẩn 1979, vốn dựa vào từ vựng văn hóa của tiếng Việt và tiếng Hán, hay nói nôm na, các từ Hán-Việt, được "Việt hóa" trong khoảng 1 nghìn năm qua.

    Thật ra, Haudricourt cũng không thống kê mà chỉ nêu một số ví dụ. Nên dữ liệu (thống kê) của Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh cho cả Phan Khôi lẫn Haudricourt. Trong bài sau, mình sẽ nêu dữ liệu này.

    Không có ý so sánh, chỉ để đọc cho vui, xin nêu một ví dụ về một chữ có thể hiểu theo 2 hay nhiều nghĩa. Trong 2 câu "đoạt sáo (1) chương dương độ, cầm hồ (2) hàm tử quan" (3) (Trần Quang Khải) chữ "hồ" hầu hết mọi người hiểu là [người] Hồ, tức các dân tộc để râu dài sống ở vùng Trung Á và Tây Á, bao hàm cả Hung Nô (trước thế kỷ 1) và Mông Cổ (từ thế kỷ 8) [Wikipedia, "người Hồ"]. Bất cứ bản phiên âm quốc ngữ nào viết hoa chữ "hồ" đều ngầm ý cách hiểu này.

    Tất nhiên, khi ấy, "Hồ" là quân giặc nước ngoài, "đoạt sáo, cầm Hồ" tả 2 hành động là cướp vũ khí [giặc], bắt [quân tướng] giặc; nói chung là "cướp của, bắt người", hai hành động tương xứng. Nên cách hiểu ấy, thoạt nhìn, cũng khá hợp lý.

    Thế nhưng search khắp Google, Weibo chẳng thể tìm thấy một bài văn, bài thơ nào dùng hai chữ "cầm hồ" với "hồ" chỉ quân địch nước ngoài này. Manh mối duy nhất chỉ có 6 chữ "Cầm Hồ sơn, Linh Tế tuyền" khắc trên một tảng đá vuông khổng lồ mà, tất nhiên, ở bên một dòng suối [đã cạn khô], trên một quả núi [ở Mông Cổ]. Sáu chữ này thuộc về hoàng đế Minh Thành Tổ trên đường chinh phạt nước ngoài này. Nhưng xem kỹ tảng đá thì thấy chữ "Hồ" này chỉ nước ngoài khác. Nước nào?

    Tảng đá, ở mặt tả có 1 bài thơ thời Minh, mặt hữu có 1 bài thơ thời Thanh. Bài thơ thời Minh viết "Hàn Hải vi tầm, Thiên Sơn vi ngạc, nhất tảo Hồ trần, vĩnh thanh sa mạc" (Minh Thành Tổ). Đại ý "Baikal là lưỡi kiếm, Pamir là chuôi gươm, quét bụi Hồ một chuyến, sa mạc mãi tinh tươm" (mình dịch tạm). Từ [biển hồ] Baikal đến [dãy núi] Pamir, đường xa vạn dặm. Trong lịch sử chỉ có một người duy nhất đường xa như thế mà chỉ đi một chuyến "quét bụi Hồ" đã làm cho sa mạc "mãi tinh tươm", đó là vị tướng thiếu niên anh hùng đoản mệnh Hoắc Khứ Bệnh ở thế kỷ 1 trước CN. Bài thơ này, Minh Thành Tổ không viết về bản thân, mà viết về Hoắc Khứ Bệnh. Và chữ "Hồ" ở đó không chỉ nước ngoài này, mà nước ngoài nọ cơ.

    Cũng có thể giả thuyết Minh Thành Tổ khéo ám chỉ chiến tích "quét bụi Hồ" của bản thân. Nhưng ngay cả như thế, cũng chưa chắc chữ "Hồ" chỉ nước ngoài này. Vì trước nước ngoài này, ông còn hạ một nước khác, cũng nhân danh chính nghĩa thiên triều trừ thế lực phản tặc, "quân nước lạ thừa cơ gây hoạ, bọn nước ta bán nước cầu vinh", đặt chế độ cai trị "nhân từ" đến nỗi "nướng dân đen trên lửa hung tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ", lập nhiều "công đức" đến nỗi "trúc núi Nam không ghi hết tội, nước biển Đông không rửa sạch mùi" (Nguyễn Trãi). Tình cờ, nước ấy cũng có thể gọi tên là "Hồ". Hồ Quý Ly.

    Hoặc cũng có thể giả thuyết Trần Quang Khải, vì tao nhã văn chương, hay vì lịch sự ngoại giao, đã ẩn dụ, gọi tên nước xưa để chỉ nước nay. Trần Quốc Tuấn, trong một bài hịch, cũng đã lịch thiệp gọi trệch tên nước ngoài này là "Mông Thát" và gọi lễ bộ thượng thư, vị đại diện đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài này một cách bóng bẩy như "ngụy sứ" (sứ giả), "di tù" (trưởng mọi) (4). Ông không tả thẳng tuột vị này, chỉ tả bóng gió như "hào ô [chi] thốn thiệt" (tấc lưỡi cú diều), "khuyển dương [chi] xích khu" (tấm thân dê chó). Nguyễn Trãi cũng dùng phép "chỉ mèo, mắng chó" này khi đặt tên bài cáo [đã trích dẫn] là "cáo bình nước ngoài xưa" thay vì "cáo bình nước ngoài nay". Hồ Xuân Hương cũng có ý đẹp này khi tiếp khách mà kiêng tên nước khách, chỉ mát mẻ gọi tên 4 nước cha, ông, cụ, kị của khách, 4 triều đại đã áp bức dân ta, rành rọt, tuần tự, "chân đi hài án, tay bán bánh ường, miệng nói líu ương, ngây ô nghí ố" (5).

    Song, ở nước ngoài này trong thời này, chính vì gọi tên xưa mà ám chỉ tên nay, chữ "Hồ" hàm ý miệt thị, chả khác mấy "man", "di", "rợ", "địch", v.v.

    Nguyên bản của Trần Quang Khải không còn. Dễ hiểu thôi. Hai thế kỷ sau Chương Dương, Hàm Tử đuổi giặc nước ngoài này, đất nước đã chìm đắm dưới đô hộ của giặc nước ngoài kia (một nước ngoài nữa, khác nước ngoài này, khác nước ngoài nọ) mà dù chỉ có 20 năm, thơ văn đã bị lũ giặc mọi rợ ấy cướp, đốt hầu hết, còn sót lại chỉ 0.1% - 0.2% [nước ta sử ký toàn thư]. Trong 5 bản chép bài thơ của Trần Quang Khải còn lại đến ngày nay (6) thì 1 bản không rõ xuất xứ niên đại, còn 4 bản được chép lại sớm nhất cũng thế kỷ 15, nghĩa là sau Chi Lăng, Xương Giang đuổi giặc nước ngoài kia.

    Do thế, chữ "hồ" chưa chắc chỉ người Hồ, mà có thể chỉ gì đó khác. Và nếu không phải đúng là chữ "hồ" này, mà chữ "hồ" khác (tiếng Hán có hơn 2 chục chữ "hồ") thì còn có thể là cái gì đó khác nữa.

    Chẳng hạn, có một chữ "hồ" nghĩa là [con] cáo.

    Có một chữ "hồ" khác nghĩa là [cây] cung [bằng gỗ, để bắn tên].

    Mà ngay chính chữ "hồ" này, chữ xuất hiện trong các bản chép, cũng có thể nghĩa là [cây] hồ, một chiến khí dài như giáo/mác, gắn lưỡi sắc hình mặt trăng khuyết mà chỉ cần đâm 1 nhát trúng cổ là bay đầu.

    Về tính tao nhã hay lịch sự, bất cứ chữ hồ nào cũng hợp lý hơn Hồ.

    Càng hợp lý hơn khi tác giả là một nhà thơ, nhà ngoại giao lỗi lạc. Là đại diện nước ta tiếp vị đặc sứ nước ngoài này, Trần Quang Khải đã thiết lập quan hệ cá nhân thân tình, tri âm tri kỷ với sứ. Vâng, chính là vị "nguỵ sứ", "di tù" ấy đấy. Khi tiễn sứ về nước, ông đã viết tặng sứ bài thơ chứa chan tình cảm, "Tiễn người về Bắc dạ khôn khuây, vó ngựa băng chừng nẻo nước mây. Nam Bắc bâng khuâng cờ trở bóng, ân tình dào dạt chén chia tay. Nói cười thoáng đã xa hình dáng, xướng hoạ còn ngờ mới đó đây. Biết đến khi nào cùng gặp lại, cầm tay bày tỏ nỗi niềm tây." (Đào Phương Bình dịch).

    Càng hợp lý hơn nữa khi chủ đề bài thơ không phải là kể tội kể công, không nhằm vào quân giặc, không là chiến tranh, không là quá khứ. Quá khứ đau buồn lắm. Thời điểm này, nhà Trần chắc đang để tang cho vô số dân, quân hy sinh vì nước, trong đó không ít hoàng thân quốc thích. Công chúa An Tư, người bị cống cho giặc để hoãn binh, là con út Trần Cảnh (vua Thái Tông), em út Trần Hoảng (vua Thánh Tông), em Trần Quang Khải, em họ Trần Quốc Tuấn và cô út, có lẽ trạc tuổi, Trần Khâm (vua Nhân Tông), tức vua đương kim. Chủ đề bài thơ nhắm vào nước nhà, là hoà bình, là tương lai, "thái bình đương trí lực, vạn cổ thử giang san" (7).

    Rất ít người hiểu chữ "hồ", nói đúng hơn, tiếng "hồ" theo nghĩa khác như thế. Nhưng search kỹ [trên mạng] cũng ra vài manh mối. Chẳng hạn, 2 câu thơ "cầm hồ đoạt sáo nhân hà tại, thùy vị giang sơn tẩy bất bình" (Nguyễn Phúc Chiêu, tức vua Thành Thái) lác đác thấy có vài bản dịch ra quốc ngữ không viết hoa chữ "hồ", hoặc không dùng chữ "hồ".

    Người cầm hồ, đoạt sáo năm xưa đâu rồi?
    Bây giờ ai vì giang sơn mà rửa nỗi bất bình?
    (Hoàng Châu Ký)

    Cầm hồ đoạt sáo còn đâu nữa,
    Ai giúp giang san tẩy bất bình?
    (khuyết danh)

    Cầm hồ đoạt sáo người đâu tá?
    Ai rửa giang sơn nỗi bất bình?
    (Trinh Đường)

    Hàm Tử, Chương Dương còn chốn đó,
    Non sông luống để bụi trần đeo.
    (Nguyễn Trọng Cẩn)



    Tư liệu (tham khảo)

    [7] Nguyễn Thị Lệ Hằng: Ngữ âm tiếng Lộc Hà - Hà Tĩnh. Luận văn tiến sỹ. Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. 2018.






    _____________________
    (1) Chữ "sáo" thật ra đọc là "sóc". Xem chẳng hạn Nguyễn Huệ Chi 1988: "Thơ văn Lý-Trần, tập II", tr.424. Ở đây viết "sáo" vì đó là cách phiên phổ biến.

    (2) Chữ "hồ" mình không viết hoa, vì nguyên bản là chữ Hán, vốn không phân biệt hoa/thường; chữ này viết hoa hay không là đề tài đang thảo luận.

    (3) Chữ "chương dương", "hàm tử", khi trích dẫn thông thường, dĩ nhiên, phải được viết hoa.

    (4) Chữ "tù" nghĩa là (i) bản, buôn, sóc, bộ lạc, thị tộc,... (ii) người đứng đầu bản, buôn, sóc, bộ lạc, thị tộc,... kiểu như "tù trưởng", "thủ lĩnh", "già làng"; "man tù", "di tù" có nghĩa đại khái là "thằng đầu sỏ bọn man di", "tên trùm bè lũ mọi rợ". Nhiều website chép sai thành "tú" (nghĩa là chỗ trú, ngôi sao,...). Chứng tỏ văn bản chữ Hán-Nôm khi lưu truyền bị "tam sao thất bản", "chữ tác đánh chữ tộ" dễ làm sao.

    (5) Bốn chữ "án", "ường", "ương", "ô" mình không viết hoa, cũng vì lý do tương tự: Hồ Xuân Hương viết chữ Nôm.

    (6) Đó là "Đại Việt sử ký toàn thư" (1479 - 1697), "Việt âm thi tập" (1729), "toàn Việt thi lục" (1768), "Hoàng Việt thi tuyển" (1788 - 1825), và "Trần triều thế phả hành trạng" (không rõ niên đại, phát hiện năm 1938).

    (7) Chữ "đương" nghĩa là đây, này, đang, nay (tương phản với chữ "thử" nghĩa là đấy, ấy, kia, sau), nhưng có người hiểu lầm là nên, cần, phải, và trên nhiều website còn bị chép nhầm thành "tu" (nghĩa là sửa, chỉnh).
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi Ada : 22-08-2019 lúc 11:50 AM.
    -...- -.- .. .-.. .-.. - .... . -... . .- ... - .-.-.

  8. #48
    Ngày gia nhập
    01 2008
    Nơi ở
    Rất đông người
    Bài viết
    577

    Đợi hai ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa, mời xuân đến với tôi.
    Giờ này còn nổi trôi, riêng tôi xin từ chối, mà xuân chán gì nơi.
    Nàng xuân chán gì nơi, xuân là của muôn người, mặc tình xuân lả lơi.
    Xuân chẳng phải riêng ai, xuân đi rồi xuân tới, ngại rằng xuân kém tươi.

    Hai mươi mấy tuổi đời, ai đón ai mời, tôi chưa muốn trao lời.
    Bản đàn xuân đã lơi, tơ lòng đang rối, xuân đến thêm buồn thôi!
    Hai mươi mấy xuân rồi, tôi vẫn đi hoài, nghe như vắng tiếng cười.
    Chạnh vì non nước tôi, đang còn lửa khói, ôi xót xa đầy vơi.

    Đợi hai ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa, mời xuân đến với tôi.
    Giờ còn nặng hai vai, thân chinh nhân hồ hải, hỏi xuân có gì vui?
    Hỏi xuân có gì vui, xuân làm dáng cho đời, đẹp lòng giây phút thôi.
    Ôi đất nước hai nơi, xuân đi làm sao tới? Dặm dài xin chớ lui!

    (Châu Kỳ)

    Nguyên bản ở đây:
    https://hopamviet.vn/sheet/song/toi-chua-co-mua-xuan/W8IU0FO6.html

    Bài này mình nghe từ bé, Duy Khánh hát. Có điều, mấy chục năm qua, cho đến khi tận mắt nhìn thấy nguyên bản, mình vẫn đinh ninh 2 chữ cuối là trở lui.

    Châu Kỳ nay đã mất. Duy Khánh cũng ra người thiên cổ. Người thứ ba có thể hiểu được ý này, Nhật Ngân, cũng đã phiêu diêu miền cực lạc. Nếu 3 ông còn sống, thể nào mình cũng sẽ tìm đến nơi mà chất vấn cớ sao chớ lui mà không phải trở lui.

    Mà thôi, cũng chả quan trọng. Ý tại, ngôn ngoại.

    Tặng những chinh nhân đã, đang và sẽ chết vì non nước khi còn nổi trôi trên hồ hải, chưa kịp có mùa Xuân.
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi Ada : 20-08-2019 lúc 10:46 AM.
    -...- -.- .. .-.. .-.. - .... . -... . .- ... - .-.-.

Trang 5 trên tổng số 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 345

Các đề tài tương tự

  1. Dịch vụ gửi hàng hóa đi Australia, gửi hàng hóa đi France, gửi hàng hóa đi Germany, gửi hàng hóa đi Janpan giá rẻ.
    Gửi bởi sales5ttico trong diễn đàn Giới thiệu website, sản phẩm của bạn
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 30-07-2014, 02:51 PM
  2. Tính thành tiền trong bảng hóa đơn từ bảng chi tiết hóa đơn
    Gửi bởi tuanvi261 trong diễn đàn Thắc mắc đại cương Database & Reporting
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 06-05-2013, 08:32 PM
  3. Hóa chất làm giảm điện trở đất, bột than tiếp địa, cọc tiếp địa, cọc thép mạ đồng, kim thu sét ese
    Gửi bởi chong set trong diễn đàn Giới thiệu website, sản phẩm của bạn
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 18-04-2012, 12:33 PM
  4. Gọi hàm con.. tiến hóa khôn lường
    Gửi bởi luckyfor trong diễn đàn Nhập môn lập trình C/C++
    Trả lời: 5
    Bài viết cuối: 06-10-2011, 03:58 PM

Tags của đề tài này

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không thể gửi đề tài mới
  • Bạn không thể gửi bài trả lời
  • Bạn không thể gửi các đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn