Xem kết quả thăm dò: Bạn thấy bài viết thế nào?

  • Rất tệ

    4 4.44%
  • Hơi tệ

    5 5.56%
  • Tạm được

    10 11.11%
  • Tốt

    31 34.44%
  • Rất hữu ích

    40 44.44%
Bạn không thể bỏ phiếu ở thăm dò này
Số người bỏ phiếu 90.
Trang 1 trên tổng số 2 12 Cuối cùngCuối cùng
Từ 1 tới 10 trên tổng số 15 kết quả

Đề tài: Học lập trình C++ Online | Tường bước học lập trình C++

  1. #1
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Post Học lập trình C++ Online | Tường bước học lập trình C++

    Chào các bạn. Tôi nhận thấy nhiều bạn thắc mắc về học C/C++ như thế nào. Thực sự thì các bạn nhận thấy khó học với nó.
    Điều đầu tiên muốn nói với các bạn là học lập trình nói riêng và IT nói chung đều cần sự TỰ NỖ LỰC của bản thân mình là chính. Điều thứ 2 là trong học lập trình, bạn phải CODING thật nhiều. Nghĩa là bạn phải ngồi máy tính, gõ từng dòng code -> compile -> báo lỗi (nếu có) -> tìm hiểu lỗi (lỗi cú pháp hay lỗi giải thuật ...) -> sửa -> code típ -> debug -> code ...
    Ban thấy đó, để giỏi chỉ có code nhiều, đọc nhiều, tìm hiểu nguyên nhân lỗi ...
    Hôm nay tôi đọc được những bài này trong cuốn "Sổ tay lập trình 1.0" do freewarez thực hiện. (người này hình như của Updatesofts.com).
    Vì tài liệu tổng hợp rất nhiều bài viết về nhiều ngôn ngữ như java, C#, PHP, autoX, SQL ... nhưng vì chỉ cần tập trung vào C++ thôi nên tôi sẽ trích xuất ra đây để các bạn tham khảo.
    Xin nhắc lại là tôi lấy từ nguồn "Sổ tay lập trình 1.0" do freewarez thực hiện. Muốn đưa lên đây để các bạn cùng học.
    Nào không nói dài nữa, chúng ta bắt đầu.
    Bài 1 : Cấu Trúc Của Một Chương Trình C++
    Có lẽ một trong những cách tốt nhất để bắt đầu học một ngôn ngữ lập trình là bằng một chương trình. Vậy đây là chương trình đầu tiên của chúng ta :
    C++ Code:
    1. // my first program in C++
    2.  
    3. #include <iostream.h>
    4.  
    5. int main ()
    6. {
    7.   cout << "Hello World!";
    8.   return 0;
    9. }

    Kết quả xuất ra màn hình: Hello World!
    Chương trình trên đây là chương trình đầu tiên mà hầu hết những người học nghề lập trình viết đầu tiên và kết quả của nó là viết câu "Hello, World" lên màn hình. Đây là một trong những chương trình đơn giản nhất có thể viết bằng C++ nhưng nó đã bao gồm những phần cơ bản mà mọi chương trình C++ có. Hãy cùng xem xét từng dòng một :
    // my first program in C++
    Đây là dòng chú thích. Tất cả các dòng bắt đầu bằng hai dấu sổ (//) được coi là chút thích mà chúng không có bất kì một ảnh hưởng nào đến hoạt động của chương trình. Chúng có thể được các lập trình viên dùng để giải thích hay bình phẩm bên trong mã nguồn của chương trình. Trong trường hợp này, dòng chú thích là một giải thích ngắn gọn những gì mà chương trình chúng ta làm.
    C++ Code:
    1. #include <iostream.h>
    Các câu bắt đầu bằng dấu (#) được dùng cho preprocessor (ai dịch hộ tôi từ này với). Chúng không phải là những dòng mã thực hiện nhưng được dùng để báo hiệu cho trình dịch. Ở đây câu lệnh #include <iostream.h> báo cho trình dịch biết cần phải "include" thư viện iostream. Đây là một thư viện vào ra cơ bản trong C++ và nó phải được "include" vì nó sẽ được dùng trong chương trình. Đây là cách cổ điển để sử dụng thư viện iostream
    int main ()
    Dòng này tương ứng với phần bắt đầu khai báo hàm main. Hàm main là điểm mà tất cả các chương trình C++ bắt đầu thực hiện. Nó không phụ thuộc vào vị trí của hàm này (ở đầu, cuối hay ở giữa của mã nguồn) mà nội dung của nó luôn được thực hiện đầu tiên khi chương trình bắt đầu. Thêm vào đó, do nguyên nhân nói trên, mọi chương trình C++ đều phải tồn tại một hàm main.
    Theo sau main là một cặp ngoặc đơn bởi vì nó là một hàm. Trong C++, tất cả các hàm mà sau đó là một cặp ngoặc đơn () thì có nghĩa là nó có thể có hoặc không có tham số (không bắt buộc). Nội dung của hàm main tiếp ngay sau phần khai báo chính thức được bao trong các ngoặc nhọn ( { } ) như trong ví dụ của chúng ta
    cout << "Hello World";
    Dòng lệnh này làm việc quan trọng nhất của chương trình. cout là một dòng (stream) output chuẩn trong C++ được định nghĩa trong thư viện iostream và những gì mà dòng lệnh này làm là gửi chuỗi kí tự "Hello World" ra màn hình.
    Chú ý rằng dòng này kết thúc bằng dấu chấm phẩy ( ; ). Kí tự này được dùng để kết thúc một lệnh và bắt buộc phải có sau mỗi lệnh trong chương trình C++ của bạn (một trong những lỗi phổ biến nhất của những lập trình viên C++ là quên mất dấu chấm phẩy).
    return 0;
    Lệnh return kết thúc hàm main và trả về mã đi sau nó, trong trường hợp này là 0. Đây là một kết thúc bình thường của một chương trình không có một lỗi nào trong quá trình thực hiện. Như bạn sẽ thấy trong các ví dụ tiếp theo, đây là một cách phổ biến nhất để kết thúc một chương trình C++.
    Chương trình được cấu trúc thành những dòng khác nhau để nó trở nên dễ đọc hơn nhưng hoàn toàn không phải bắt buộc phải làm vậy. Ví dụ, thay vì viết
    C++ Code:
    1. int main ()
    2. {
    3.   cout << " Hello World ";
    4.   return 0;
    5. }

    ta có thể viết
    C++ Code:
    1. int main () { cout << " Hello World "; return 0; }

    cũng cho một kết quả chính xác như nhau.
    Trong C++, các dòng lệnh được phân cách bằng dấu chấm phẩy ( . Việc chia chương trình thành các dòng chỉ nhằm để cho nó dễ đọc hơn mà thôi.
    Các chú thích.
    Các chú thích được các lập trình viên sử dụng để ghi chú hay mô tả trong các phần của chương trình. Trong C++ có hai cách để chú thích
    // Chú thích theo dòng
    /* Chú thích theo khối */
    Chú thích theo dòng bắt đầu từ cặp dấu xổ (//) cho đến cuối dòng. Chú thích theo khối bắt đầu bằng /* và kết thúc bằng */ và có thể bao gồm nhiều dòng. Chúng ta sẽ thêm các chú thích cho chương trình :
    C++ Code:
    1. /* my second program in C++
    2.    with more comments */
    3.  
    4. #include <iostream.h>
    5.  
    6. int main ()
    7. {
    8.   cout << "Hello World! ";     // says Hello World!
    9.   cout << "I'm a C++ program"; // says I'm a C++ program
    10.   return 0;
    11. }

    Xuất kết quả ra màn hình như sau:

    Output Code:
    1. Hello World! I'm a C++ program

    Nếu bạn viết các chú thích trong chương trình mà không sử dụng các dấu //, /* hay */, trình dịch sẽ coi chúng như là các lệnh C++ và sẽ hiển thị các lỗi.

    Để bài viết hữu ích hơn thì cần phải có bài tập. Bài tập phần 1 như sau:
    1. Viết chương trình xuất ra màn hình câu: "Toi muon hoc lap trinh C++"
    Và 1 câu khác trên 1 dòng khác "bai tap dau tien"
    Trong đó phải có các chú thích cụ thể đoạn nào làm cái gì.
    2. Viết chương trình xuất ra màn hình tam giác có dạng
    Code:
        
         *
        * *
       *   *
      *******
    Bài này không được dùng vòng lặp for.
    Qua bài viết sau sẽ có các toán tử ... sẽ có nhiều bài tập hơn. Các bài tập này giúp các bạn làm quen với môi trường lập trình thôi. Để giỏi và tốt hơn thì các bạn tự nghĩ thêm bài tập cho mình nhé.
    Cheers.

  2. #2
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Post Biến và hằng

    Bài 2: BIẾN VÀ HẰNG
    Biến :
    Dùng để chứa dữ liệu tạm thời cho tính toán, so sánh và các hoạt động khác.
    Để khai báo biến, ta dùng lệnh khai báo như sau
    <phạm vi của biến> kiểu biến <tên biến>; // dấu ";" là điều kiện bắt buộc.

    Quy ước với tên biến: Một tên biến (indentifiers) hợp lệ là một chuỗi gồm các chữ cái, chữ số hoặc ký tự gạch dưới. Chiều dài của một tên là không giới hạn. Ký tự trống, các ký tự đánh dấu đều không thể có mặt trong một tên. Chỉ có chữ cái, chữ số và ký tự gạch dưới là được cho phép.

    Thêm vào đó, một tên biến luôn phải bắt đầu bằng một chữ cái. Chúng cũng có thể bắt đầu bằng ký tự gạch dưới ( _ ) nhưng ký tự này thường được dành cho các liên kết bên ngoài (external link). Không bao giờ chúng bắt đầu bằng một chữ số.

    Một luật nữa mà bạn phải quan tâm khi tạo ra các tên của riêng mình là chúng không được trùng với bất kỳ từ khoá nào của ngôn ngữ hay của trình dịch. Ví dụ các tên sau đây luôn luôn được coi là từ khoá theo chuẩn ANSI-C++ và do vậy chúng không thể được dùng để đặt tên:

    Keywords Code:
    1. asm, car, bool, break, marry, catch, to char, class, const, const_cast,
    2. continue, default, delete, do, double, dynamic_cast, else, enum, explicit,
    3. extern, false, float, for, friend, goto, if, inline, int, long, mutable, namespace,
    4. new, operator, private, protected, public, to register, reinterpret_cast, return,
    5. short, signed, sizeof, static, static_cast, struct, switch, template, this, throw,
    6. true, try, typedef, typeid, typename, union, unsigned, using, virtual, void, volatile, wchar_t.
    Thêm vào đó, một số biểu diễn khác của các toán tử (operator) cũng không được dùng làm tên vì chúng là những từ được dành riêng trong một số trường hợp:

    Operators Code:
    1. and, and_eq, bitand, bitor, compl, not, not_eq, or, or_eq, xor, xor_eq.

    Trình dịch của bạn có thể thêm một từ dành riêng đặc trưng khác. Ví dụ, rất nhiều trình dịch 16 bit (như các trình dịch cho DOS) còn có thể các từ khoá

    Keywords Code:
    1. far, huge và near.

    Chú ý: Ngôn ngữ C++ là "case sensitive" có nghĩa là phân biệt chữ hoa chữ thường. Do vậy biến RESULT khác với result cũng như Result.

    Các kiểu dữ liệu

    Khi lập trình, chúng ta lưu trữ các biến trong bộ nhớ của máy tính, nhưng máy tính phải biết chúng ta muốn lưu trữ gì trong chúng vì các kiểu dữ liệu khác nhau sẽ cần lượng bộ nhớ khác nhau.

    Bộ nhớ của máy tính chúng ta được tổ chức thành các byte. Một byte là lượng bộ nhớ nhỏ nhất mà chúng ta có thể quản lý. Một byte có thể dùng để lưu trữ một loại dữ liệu nhỏ như là kiểu số nguyên từ 0 đến 255 hay một ký tự. Nhưng máy tính có thể xử lý các kiểu dữ liệu phức tạp hơn bằng cách gộp nhiều byte lại với nhau, như số nguyên dài hay số thập phân. Tiếp theo bạn sẽ có một danh sách các kiểu dữ liệu cơ bản trong C++ cũng như miền giá trị mà chúng có thể biểu diễn:
    Miền giá trị Code:
    1. Tên    Số byte   Mô tả                                                         Miền giá trị
    2. char    1              ký tự hay kiểu số nguyên 8-bit                      có dấu -128 to 127  không dấu: 0 to 255
    3. short   2              kiểu số nguyên 16-bit                                  có dấu:-32763 to 32762 không dấu: 0 to 65535
    4. long    4              kiểu số nguyên 32-bit                              có dấu:-2147483648 to 2147483647 không dấu: 0 to 4294967295
    5. int     *               Số nguyên.                                                 Độ dài của nó phụ thuộc vào hệ thống, như trong MS-DOS nó là 16-bit, trên Windows 9x/2000/NT là 32 bit...    Xem short, long
    6. float   4              Dạng dấu phẩy động                                    3.4e + / - 38 (7 digits)
    7. double  8            Dạng dấu phẩy động với độ chính xác gấp đôi    1.7e + / - 308 (15 digits)
    8. long double     10     Dạng dấu phẩy động với độ chính xác hơn nữa   1.2e + / - 4932 (19 digits)

    bool 1 Giá trị logic. Nó mới được thêm vào chuẩn ANSI-C++. Bởi vậy không phải tất cả các trình dịch đều hỗ trợ nó true hoặc false

    Ngoài các kiểu dữ liệu cơ bản nói trên còn tồn tại các con trỏ và các tham số không kiểu (void) mà chúng ta sẽ xem xét sau.

    Tham khảo thêm tại đây
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi kitti : 22-02-2011 lúc 09:20 PM. Lý do: Đưa code vào tag code, và chỉnh tiêu đề bài viết

  3. #3
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Post Các Toán Tử

    Bài 3 : Các Toán Tử
    Qua bài trước chúng ta đã biết đến sự tồn tại của các biến và các hằng. Trong C++, để thao tác với chúng ta sử dụng các toán tử, đó là các từ khoá và các dấu không có trong bảng chữ cái nhưng lại có trên hầu hết các bàn phím trên thế giới. Hiểu biết về chúng là rất quan trọng vì đây là một trong những thành phần cơ bản của ngôn ngữ C++.
    Toán tử gán (=).
    Toán tử gán dùng để gán một giá trị nào đó cho một biến
    C++ Code:
    1. a = 5;
    gán giá trị nguyên 5 cho biến a. Vế trái bắt buộc phải là một biến còn vế phải có thể là bất kì hằng, biến hay kết quả của một biểu thức.
    Cần phải nhấn mạnh rằng toán tử gán luôn được thực hiện từ trái sang phải và không bao giờ đảo ngược
    C++ Code:
    1. a = b;
    gán giá trị của biến a bằng giá trị đang chứa trong biến b. Chú ý rằng chúng ta chỉ gán giá trị của b cho a và sự thay đổi của b sau đó sẽ không ảnh hưởng đến giá trị của a.
    Một thuộc tính của toán tử gán trong C++ góp phần giúp nó vượt lên các ngôn ngữ lập trình khác là việc cho phép vế phải có thể chứa các phép gán khác. Ví dụ:
    C++ Code:
    1. a = 2 + (b = 5);
    tương đương với
    C++ Code:
    1. b = 5;
    2. a = 2 + b;
    Vì vậy biểu thức sau cũng hợp lệ trong C++
    C++ Code:
    1. a = b = c = 5;
    gán giá trị 5 cho cả ba biến a, b và c
    Các toán tử số học ( +, -, *, /, % )
    Năm toán tử số học được hỗ trợ bởi ngôn ngữ là:

    Toán Tử Code:
    1. +   cộng
    2. -   trừ
    3. *   nhân
    4. /   chia
    5. %   lấy phần dư (trong phép chia)

    Thứ tự thực hiện các toán tử này cũng giống như chúng được thực hiện trong toán học. Điều duy nhất có vẻ hơi lạ đối với bạn là phép lấy phần dư, ký hiệu bằng dấu phần trăm (%). Đây chính là phép toán lấy phần dư trong phép chia hai số nguyên với nhau. Ví dụ, nếu a = 11 % 3;, biến a sẽ mang giá trị 2 vì 11 = 3*3 +2.
    Các toán tử gán phức hợp (+=, -=, *=, /=, %=, >>=, <<=, &=, ^=, |=)
    Một đặc tính của ngôn ngữ C++ làm cho nó nổi tiếng là một ngôn ngữ súc tích chính là các toán tử gán phức hợp cho phép chỉnh sửa giá trị của một biến với một trong những toán tử cơ bản sau:

    value += increase; tương đương với value = value + increase;
    a -= 5; tương đương với a = a - 5;
    a /= b; tương đương với a = a / b;


    price *= units + 1; tương đương với price = price * (units + 1);
    và tương tự cho tất cả các toán tử khác.
    Tăng và giảm.
    Một ví dụ khác của việc tiết kiệm khi viết mã lệnh là toán tử tăng (++) và giảm (--). Chúng tăng hoặc giảm giá trị chứa trong một biến đi 1. Chúng tương đương với +=1 hoặc -=1. Vì vậy, các dòng sau là tương đương:

    C++ Code:
    1. a++;
    2. a+=1;
    3. a=a+1;

    Một tính chất của toán tử này là nó có thể là tiền tố hoặc hậu tố, có nghĩa là có thể viết trước tên biến (++a) hoặc sau (a++) và mặc dù trong hai biểu thức rất đơn giản đó nó có cùng ý nghĩa nhưng trong các thao tác khác khi mà kết quả của việc tăng hay giảm được sử dụng trong một biểu thức thì chúng có thể có một khác biệt quan trọng về ý nghĩa: Trong trường hợp toán tử được sử dụng như là một tiền tố (++a) giá trị được tăng trước khi biểu thức được tính và giá trị đã tăng được sử dụng trong biểu thức; trong trường hợp ngược lại (a++) giá trị trong biến a được tăng sau khi đã tính toán. Hãy chú ý sự khác biệt :
    Ví dụ 1 Ví dụ 2
    C++ Code:
    1. B=3;
    2. A=++B;
    3. // A is 4, B is 4   B=3;
    4. A=B++;
    5. // A is 3, B is 4

    Các toán tử quan hệ ( ==, !=, >, <, >=, <= )
    Để có thể so sánh hai biểu thức với nhau chúng ta có thể sử dụng các toán tử quan hệ. Theo chuẩn ANSI-C++ thì giá trị của thao tác quan hệ chỉ có thể là giá trị logic - chúng chỉ có thể có giá trị true hoặc false, tuỳ theo biểu thức kết quả là đúng hay sai.

    Sau đây là các toán tử quan hệ bạn có thể sử dụng trong C++
    Toán tử Code:
    1. ==  Bằng
    2. !=  Khác
    3. >   Lớn hơn
    4. <   Nhỏ hơn
    5. > = Lớn hơn hoặc bằng
    6. < = Nhỏ hơn hoặc bằng
    Ví dụ:
    Code:
    (7 == 5)	sẽ trả giá trị false
    (6 >= 6)	sẽ trả giá trị true
    tất nhiên thay vì sử dụng các số, chúng ta có thể sử dụng bất cứ biểu thức nào. Cho a=2, b=3 và c=6
    Code:
    (a*b >= c)	sẽ trả giá trị true.
    (b+4 < a*c)	sẽ trả giá trị false
    Cần chú ý rằng = (một dấu bằng) lf hoàn toàn khác với == (hai dấu bằng). Dấu đầu tiên là một toán tử gán ( gán giá trị của biểu thức bên phải cho biến ở bên trái) và dấu còn lại (==) là một toán tử quan hệ nhằm so sánh xem hai biểu thức có bằng nhau hay không.

    Trong nhiều trình dịch có trước chuẩn ANSI-C++ cũng như trong ngôn ngữ C, các toán tử quan hệ không trả về giá trị logic true hoặc false mà trả về giá trị int với 0 tương ứng với false còn giá trị khác 0 (thường là 1) thì tương ứng với true.

    Các toán tử logic ( !, &&, || ).
    Toán tử ! tương đương với toán tử logic NOT, nó chỉ có một đối số ở phía bên phải và việc duy nhất mà nó làm là đổi ngược giá trị của đối số từ true sang false hoặc ngược lại. Ví dụ:
    Toán tử logic Code:
    1. !(5 == 5)   trả về false vì biểu thức bên phải (5 == 5) có giá trịtrue.
    2. !(6 <= 4)   trả về true vì (6 <= 4)có giá trị false.
    3. !true   trả về false.
    4. !false  trả về true.
    Toán tử logic && và || được sử dụng khi tính toán hai biểu thức để lấy ra một kết quả duy nhất. Chúng tương ứng với các toán tử logic AND và OR. Kết quả của chúng phụ thuộc vào mối quan hệ của hai đối số:
    Đối số thứ nhất Đối số thứ hai Kết quả Kết quả
    a b a && b a || b
    true true true true
    true false false true
    false true false true
    false false false false

    Ví dụ:
    ( (5 == 5) && (3 > 6) ) trả về false ( true && false ).
    ( (5 == 5) || (3 > 6)) trả về true ( true || false ).
    Toán tử điều kiện ( ? ).
    Toán tử điều kiện tính toán một biểu thức và trả về một giá trị khác tuỳ thuộc vào biểu thức đó là đúng hay sai. Cấu trúc của nó như sau:
    condition ? result1 : result2
    Nếu condition là true thì giá trị trả về sẽ là result1, nếu không giá trị trả về là result2.
    Toan tử điều kiện Code:
    1. 7==5 ? 4 : 3    trả về 3 vì 7 không bằng 5.
    2. 7==5+2 ? 4 : 3  trả về 4 vì 7 bằng 5+2.
    3. 5>3 ? a : b trả về a, vì 5 lớn hơn 3.
    4. a>b ? a : b trả về giá trị lớn hơn, a hoặc b.

    Các toán tử thao tác bit ( &, |, ^, ~, <<, >> ).
    Các toán tử thao tác bit thay đổi các bit biểu diễn một biến, có nghĩa là thay đổi biểu diễn nhị phân của chúng
    Các toán tử Code:
    1. Toán tử  asm Mô tả
    2. &   AND Logical AND
    3. |   OR  Logical OR
    4. ^   XOR Logical exclusive OR
    5. ~   NOT Đảo ngược bit
    6. <<  SHL Dịch bit sang trái
    7. >>  SHR Dịch bit sang phải

    Các toán tử chuyển đổi kiểu
    Các toán tử chuyển đổi kiểu cho phép bạn chuyển đổi dữ liệu từ kiểu này sang kiểu khác. Có vài cách để làm việc này trong C++, cách cơ bản nhất được thừa kế từ ngôn ngữ C là đặt trước biểu thức cần chuyển đổi tên kiểu dữ liệu được bọc trong cặp ngoặc đơn (), ví dụ:
    C++ Code:
    1. int i;
    2. float f = 3.14;
    3. i = (int) f;
    Đoạn mã trên chuyển số thập phân 3.14 sang một số nguyên (3). Ở đây, toán tử chuyển đổi kiểu là (int). Một cách khác để làm điều này trong C++ là sử dụng các constructors (ở một số sách thuật ngữ này được dịch là cấu tử nhưng tôi thấy nó có vẻ không xuôi tai lắm) thay vì dùng các toán tử : đặt trước biểu thức cần chuyển đổi kiểu tên kiểu mới và bao bọc biểu thức giữa một cặp ngoặc đơn.
    C++ Code:
    1. i = int ( f );
    Cả hai cách chuyển đổi kiểu đều hợp lệ trong C++. Thêm vào đó ANSI-C++ còn có những toán tử chuyển đổi kiểu mới đặc trưng cho lập trình hướng đối tượng.

    sizeof()
    Toán tử này có một tham số, đó có thể là một kiểu dữ liệu hay là một biến và trả về kích cỡ bằng byte của kiểu hay đối tượng đó.
    a = sizeof (char);
    a sẽ mang giá trị 1 vì kiểu char luôn có kích cỡ 1 byte trên mọi hệ thống. Giá trị trả về của sizeof là một hằng số vì vậy nó luôn luôn được tính trước khi chương trình thực hiện.

    Các toán tử
    Trong C++ còn có một số các toán tử khác, như các toán tử liên quan đến con trỏ hay lập trình hướng đối tượng. Chúng sẽ được nói đến cụ thể trong các phần tương ứng.
    Thứ tự ưu tiên của các toán tử
    Khi viết các biểu thức phức tạp với nhiều toán hạng các bạn có thể tự hỏi toán hạng nào được tính trước, toán hạng nào được tính sau. Ví dụ như trong biểu thức sau:
    C++ Code:
    1. a = 5 + 7 % 2
    có thể có hai cách hiểu sau:
    Code:
    a = 5 + (7 % 2) với kết quả là 6, hoặc
    a = (5 + 7) % 2 với kết quả là 0
    Câu trả lời đúng là biểu thức đầu tiên. Vì nguyên nhân nói trên, ngôn ngữ C++ đã thiết lập một thứ tự ưu tiên giữa các toán tử, không chỉ riêng các toán tử số học mà tất cả các toán tử có thể xuất hiện trong C++. Thứ tự ưu tiên của chúng được liệt kê trong bảng sau theo thứ tự từ cao xuống thấp.

    Thứ tự ưu tiên Code:
    1. Thứ tự  Toán tử    Mô tả             Associativity
    2. 1      ::           scope           Trái
    3. 2      () [ ] -> . sizeof       Trái
    4. 3   ++ --   tăng/giảm         Phải
    5.     ~   Đảo ngược bit
    6.     !   NOT
    7.     & * Toán tử con trỏ   
    8.     (type)  Chuyển đổi kiểu 
    9.     + - Dương hoặc âm 
    10. 4   * / %   Toán tử số học   Trái
    11. 5   + - Toán tử số học   Trái
    12. 6   << >>   Dịch bit  Trái
    13. 7   < <= > >=   Toán tử quan hệ    Trái
    14. 8   == !=   Toán tử quan hệ    Trái
    15. 9   & ^ |   Toán tử thao tác bit    Trái
    16. 10  && ||   Toán tử logic    Trái
    17. 11  ?:  Toán tử điều kiện   Phải
    18. 12  = += -= *= /= %= >>= <<= &= ^= |=   Toán tử gán Phải
    19. 13  ,   Dấu phẩy    Trái
    Associativity định nghĩa trong trường hợp có một vài toán tử có cùng thứ tự ưu tiên thì cái nào sẽ được tính trước, toán tử ở phía xa nhất bên phải hay là xa nhất bên trái.
    Nếu bạn muốn viết một biểu thức phức tạp mà lại không chắc lắm về thứ tự ưu tiên của các toán tử thì nên sử dụng các ngoặc đơn. Các bạn nên thực hiện điều này vì nó sẽ giúp chương trình dễ đọc hơn.

    VÌ SAO TOÁN TỬ LẠI QUAN TRỌNG: Vì mọi thao tác lập trình đều cần dùng nó.
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi kitti : 22-02-2011 lúc 09:33 PM. Lý do: Đưa code vào tag code, và chỉnh tiêu đề bài viết

  4. #4
    Ngày gia nhập
    10 2007
    Nơi ở
    HCMUNS
    Bài viết
    459

    Trong trường hợp toán tử được sử dụng như là một tiền tố (++a) giá trị được tăng trước khi biểu thức được tính và giá trị đã tăng được sử dụng trong biểu thức; trong trường hợp ngược lại (a++) giá trị trong biến a được tăng sau khi đã tính toán.
    BẠn có thể giải thích cho mình biết tại sao lại như vậy ko ? Code ASM nó sẽ ra như thế nào ? Và nên xài ++i hay i++ trong vòng for ?
    Keep moving forward!

    ... Retired ...

  5. #5
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Trích dẫn Nguyên bản được gửi bởi nhc1987 Xem bài viết
    BẠn có thể giải thích cho mình biết tại sao lại như vậy ko ? Code ASM nó sẽ ra như thế nào ? Và nên xài ++i hay i++ trong vòng for ?
    Chào bạn.
    Giải thích một chút cho bạn. Có lẽ bạn định hỏi cái này để mọi người rõ hơn chứ bạn có lẽ rõ phần này rồi.
    Về code ASM thì một ngày nào rảnh mình sẽ coi kỹ hơn rồi giải thích. Chứ không thì nhập nhằng. Nếu bạn tường tận code ASM thế nào thì xin bạn post lên nhé. Cho tôi được phép tham khảo thêm.
    Còn ++i và i++ khác nhau. Ví dụ là bạn thấy rõ nhất.
    Ví dụ 1
    Code:
    ....
    int icount = 0;
    for(int icheck=0; icheck < 5; ++icheck)
         printf("%d   ",++icount);
    Code:
    Kết quả: 1   2   3   4   5
    Nhưng nếu code là
    Ví dụ 2
    Code:
    ....
    int icount = 0;
    for(int icheck=0; icheck < 5; icheck++)
         printf("%d   ",icount++);
    Code:
    Kết quả: 0   1   2   3   4
    Ở ví dụ 1, giá trị của biến icount sẽ được tăng lên 1 trước khi được ghi ra màn hình. Điiều này nghĩa là giá trị biến được tăng trước khi thực hiện ghi ra màn hình.

    Còn ở ví dụ 2. giá trị biến được ghi ra màn hình rồi nó mới tăng lên 1.
    Vậy là đã rõ, ++icount và icount++ khác nhau.
    Nhưng tại sao trong vòng lặp thì icheck++ và ++icheck lại không làm cho kết quả thay đổi. Xin thưa trong vòng lặp for nó chạy như sau:
    Code:
    for(toán tử 1; biểu thức so sánh; toán tử 2)
    Tức là trong vòng for, nó xét toán tử 1 trước , sau đó nó xét đến biểu thức so sánh (chỗ này cho ra true hoặc false thôi nhe), nếu thỏa thì thực thi chuỗi lệnh ngay sau nó. Sau khi thực hiện xong thì nó mới quay lên toán tử 2. Như vậy toán tử 2 không thực thi code ngay sau nó.
    Tóm lại việc thực thi code trong vòng lặp phụ thuộc vào biểu thức so sánh.
    Do đó trong biểu thức so sánh này, nếu dùng
    Code:
    ++icheck < 5 hoặc icheck++<5
    thì sẽ cho kết quả khác nhau.
    Còn dùng ++icheck và icheck++ trong toán tử 2 thì không có khác biệt.
    Theo kinh nghiệm làm việc thì HẦU NHƯ người ta dùng i++ trong vòng for cho toán tử 2.
    Vậy bạn đã vừa lòng với câu trả lời chưa.
    Bài tiếp theo mình sẽ post sớm cho các bạn.
    Regards,

  6. #6
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Post Các Cấu Trúc Điều Khiển

    Bài này tôi viết bên box tự học C qua Cộng đồng C Việt, lấy qua đây cho liên tục bài viết. các bạn thông cảm vì bị trùng lặp nhé.
    Các Cấu Trúc Điều Khiển
    Một chương trình thường không chỉ bao gồm các lệnh tuần tự nối tiếp nhau. Trong quá trình chạy nó có thể rẽ nhánh hay lặp lại một đoạn mã nào đó. Để làm điều này chúng ta sử dụng các cấu trúc điều khiển.
    Cùng với việc giới thiệu các cấu trúc điều khiển chúng ta cũng sẽ phải biết tới một khái niệm mới: khối lệnh, đó là một nhóm các lệnh được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy ( nhưng được gộp trong một khối giới hạn bởi một cặp ngoặc nhọn: { và }.
    Hầu hết các cấu trúc điều khiển mà chúng ta sẽ xem xét trong chương này cho phép sử dụng một lệnh đơn hay một khối lệnh làm tham số, tuỳ thuộc vào chúng ta có đặt nó trong cặp ngoặc nhọn hay không.
    1. Cấu trúc điều kiện: if và else
    Cấu trúc này được dùng khi một lệnh hay một khối lệnh chỉ được thực hiện khi một điều kiện nào đó thoả mãn. Dạng của nó như sau:
    C++ Code:
    1. if (condition) statement
    trong đó condition là biểu thức sẽ được tính toán. Nếu điều kiện đó là true, statement được thực hiện. Nếu không statement bị bỏ qua (không thực hiện) và chương trình tiếp tục thực hiện lệnh tiếp sau cấu trúc điều kiện.
    Ví dụ, đoạn mã sau đây sẽ viết x is 100 chỉ khi biến x chứa giá trị 100:
    C++ Code:
    1. if (x == 100)
    2.   cout << "x is 100";
    Nếu chúng ta muốn có hơn một lệnh được thực hiện trong trường hợp condition là true chúng ta có thể chỉ định một khối lệnh bằng cách sử dụng một cặp ngoặc nhọn { }:
    C++ Code:
    1. if (x == 100)
    2.  {
    3.   cout << "x is ";
    4.   cout << x;
    5.  }
    Chúng ta cũng có thể chỉ định điều gì sẽ xảy ra nếu điều kiện không được thoả mãn bằng cách sửu dụng từ khoá else. Nó được sử dụng cùng với if như sau:
    if (condition) statement1 else statement2
    Ví dụ:
    C++ Code:
    1. if (x == 100)
    2.   cout << "x is 100";
    3. else
    4.   cout << "x is not 100";
    Cấu trúc if + else có thể được móc nối để kiểm tra nhiều giá trị. Ví dụ sau đây sẽ kiểm tra xem giá trị chứa trong biến x là dương, âm hay bằng không.
    C++ Code:
    1. if (x > 0)
    2.   cout << "x is positive";
    3. else if (x < 0)
    4.   cout << "x is negative";
    5. else
    6.   cout << "x is 0";
    2. Các cấu trúc lặp
    Mục đích của các vòng lặp là lặp lại một thao tác với một số lần nhất định hoặc trong khi một điều kiện nào đó còn thoả mãn.
    2.1 Vòng lặp while .
    Dạng của nó như sau:
    C++ Code:
    1. while (expression) statement
    và chức năng của nó đơn giản chỉ là lặp lại statement khi điều kiện expression còn thoả mãn.
    Ví dụ, chúng ta sẽ viết một chương trình đếm ngược sử dụng vào lặp while:
    C++ Code:
    1. // custom countdown using while
    2. #include <iostream.h>
    3. int main ()
    4. {
    5.   int n;
    6.   cout << "Enter the starting number > ";
    7.   cin >> n;
    8.   while (n>0) {
    9.     cout << n << ", ";
    10.     --n;
    11.   }
    12.   cout << "FIRE!";
    13.   return 0;
    14. }
    KẾt quả ra màn hình
    Code:
    Enter the starting number > 8
    8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, FIRE!
    Khi chương trình chạy người sử dụng được yêu cầu nhập vào một số để đếm ngược. Sau đó, khi vòng lặp while bắt đầu nếu số mà người dùng nhập vào thoả mãn điều kiện điều kiện n>0 khối lệnh sẽ được thực hiện một số lần không xác định chừng nào điều kiện (n>0) còn được thoả mãn.
    Chúng ta cần phải nhớ rằng vòng lặp phải kết thúc ở một điểm nào đó, vì vậy bên trong vòng lặp chúng ta phải cung cấp một phương thức nào đó để buộc condition trở thành sai nếu không thì nó sẽ lặp lại mãi mãi. Trong ví dụ trên vòng lặp phải có lệnh --n; để làm cho condition trở thành sai sau một số lần lặp.
    2.2. Vòng lặp do-while
    Dạng thức:
    Code:
    do statement while (condition);
    Chức năng của nó là hoàn toàn giống vòng lặp while chỉ trừ có một điều là điều kiện điều khiển vòng lặp được tính toán sau khi statement được thực hiện, vì vậy statement sẽ được thực hiện ít nhất một lần ngay cả khi condition không bao giờ được thoả mãn. Ví dụ, chương trình dưới đây sẽ viết ra bất kì số nào mà bạn nhập vào cho đến khi bạn nhập số 0.
    C++ Code:
    1. // number echoer
    2. #include <iostream.h>
    3. int main ()
    4. {
    5.   unsigned long n;
    6.   do {
    7.     cout << "Enter number (0 to end): ";
    8.     cin >> n;
    9.     cout << "You entered: " << n << "\n";
    10.   } while (n != 0);
    11.   return 0;
    12. }
    Kết quả
    Kết quả Code:
    1. Enter number (0 to end): 12345
    2. You entered: 12345
    3. Enter number (0 to end): 160277
    4. You entered: 160277
    5. Enter number (0 to end): 0
    6. You entered: 0
    Vòng lặp do-while thường được dùng khi điều kiện để kết thúc vòng lặp nằm trong vòng lặp, như trong ví dụ trên, số mà người dùng nhập vào là điều kiện kiểm tra để kết thúc vòng lặp. Nếu bạn không nhập số 0 trong ví dụ trên thì vòng lặp sẽ không bao giờ chấm dứt.
    2.3 Vòng lặp for .
    Dạng thức:
    Code:
    for (initialization; condition; increase) statement;
    và chức năng chính của nó là lặp lại statement chừng nào condition còn mang giá trị đúng, như trong vòng lặp while. Nhưng thêm vào đó, for cung cấp chỗ dành cho lệnh khởi tạo và lệnh tăng. Vì vậy vòng lặp này được thiết kế đặc biệt lặp lại một hành động với một số lần xác định.
    Cách thức hoạt động của nó như sau:
    Code:
    1, initialization được thực hiện. Nói chung nó đặt một giá khí ban đầu cho biến điều khiển. Lệnh này được thực hiện chỉ một lần.
    2, condition được kiểm tra, nếu nó là đúng vòng lặp tiếp tục còn nếu không vòng lặp kết thúc và statement được bỏ qua.
    3, statement được thực hiện. Nó có thể là một lệnh đơn hoặc là một khối lệnh được bao trong một cặp ngoặc nhọn.
    4, Cuối cùng, increase được thực hiện để tăng biến điều khiển và vòng lặp quay trở lại bước 2.
    Sau đây là một ví dụ đếm ngược sử dụng vòng for.
    C++ Code:
    1. // countdown using a for loop
    2. #include <iostream.h>
    3. int main ()
    4. {
    5.   for (int n=10; n>0; n--) {
    6.     cout << n << ", ";
    7.   }
    8.   cout << "FIRE!";
    9.   return 0;
    10. }
    Kết quả
    Code:
    10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, FIRE!
    Phần khởi tạo và lệnh tăng không bắt buộc phải có. Chúng có thể được bỏ qua nhưng vẫn phải có dấu chấm phẩy ngăn cách giữa các phần. Vì vậy, chúng ta có thể viết for (;n<10 hoặc for (;n<10;n++).
    Bằng cách sử dụng dấu phẩy, chúng ta có thể dùng nhiều lệnh trong bất kì trường nào trong vòng for, như là trong phần khởi tạo. Ví dụ chúng ta có thể khởi tạo một lúc nhiều biến trong vòng lặp:
    C++ Code:
    1. for ( n=0, i=100 ; n!=i ; n++, i-- )
    2. {
    3.   // cái gì ở đây cũng được...
    4. }
    Vòng lặp này sẽ thực hiện 50 lần nếu như n và i không bị thay đổi trong thân vòng lặp:

    n=0, i=100: Phần khởi tạo. Ban đầu n nhận giá trị 0, i nhận giá trị 100;
    n!=i: Phần điều kiện. Khi gặp điều kiện thị nó dừng.
    n++, i--: Thực thi việc tăng giảm theo mỗi vòng lặp.
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi kitti : 22-02-2011 lúc 09:37 PM. Lý do: Đưa code vào tag code, và chỉnh tiêu đề bài viết

  7. #7
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Wink Các lệnh rẽ nhánh và lệnh nhảy trong lập trình C++

    Các lệnh rẽ nhánh và lệnh nhảy
    1. Lệnh break.
    Sử dụng break chúng ta có thể thoát khỏi vòng lặp ngay cả khi điều kiện để nó kết thúc chưa được thoả mãn. Lệnh này có thể được dùng để kết thúc một vòng lặp không xác định hay buộc nó phải kết thúc giữa chừng thay vì kết thúc một cách bình thường. Ví dụ, chúng ta sẽ dừng việc đếm ngược trước khi nó kết thúc:
    C++ Code:
    1. // break loop example
    2. #include <iostream.h>
    3. int main ()
    4. {
    5.   int n;
    6.   for (n=10; n>0; n--) {
    7.     cout << n << ", ";
    8.     if (n==3)
    9.     {
    10.       cout << "countdown aborted!";
    11.       break;
    12.     }
    13.   }
    14.   return 0;
    15. }
    Kết quả
    Kết quả Code:
    1. 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, countdown aborted!

    2. Lệnh continue.
    Lệnh continue làm cho chương trình bỏ qua phần còn lại của vòng lặp và nhảy sang lần lặp tiếp theo. Ví dụ chúng ta sẽ bỏ qua số 5 trong phần đếm ngược:
    C++ Code:
    1. // break loop example
    2. #include <iostream.h>
    3. int main ()
    4. {
    5.   for (int n=10; n>0; n--) {
    6.     if (n==5) continue;
    7.     cout << n << ", ";
    8.   }
    9.   cout << "FIRE!";
    10.   return 0;
    11. }
    Kết quả
    Code:
    10, 9, 8, 7, 6, 4, 3, 2, 1, FIRE!
    3. Lệnh goto.
    Lệnh này cho phép nhảy vô điều kiện tới bất kì điểm nào trong chương trình. Nói chung bạn nên tránh dùng nó trong chương trình C++. Tuy nhiên chúng ta vẫn có một ví dụ dùng lệnh goto để đếm ngược:
    C++ Code:
    1. // goto loop example
    2. #include <iostream.h>
    3. int main ()
    4. {
    5.   int n=10;
    6.   loop: ;
    7.   cout << n << ", ";
    8.   n--;
    9.   if (n>0) goto loop;
    10.   cout << "FIRE!";
    11.   return 0;
    12. }
    Kết quả
    Code:
    10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, FIRE!
    4. Hàm exit.
    Mục đích của exit là kết thúc chương trình và trả về một mã xác định. Dạng thức của nó như sau
    Code:
    void exit (int exit code);
    exit code được dùng bởi một số hệ điều hành hoặc có thể được dùng bởi các chương trình gọi. Theo quy ước, mã trả về 0 có nghĩa là chương trình kết thúc bình thường còn các giá trị khác 0 có nghĩa là có lỗi.

    5. Cấu trúc lựa chọn: switch.
    Cú pháp của lệnh switch hơi đặc biệt một chút. Mục đích của nó là kiểm tra một vài giá trị hằng cho một biểu thức, tương tự với những gì chúng ta làm ở đầu bài này khi liên kết một vài lệnh if và else if với nhau. Dạng thức của nó như sau:
    C++ Code:
    1. switch (expression) {
    2.   case constant1:
    3.     block of instructions 1
    4.     break;
    5.   case constant2:
    6.     block of instructions 2
    7.     break;
    8.   .
    9.   .
    10.   .
    11.   default:
    12.     default block of instructions
    13.   }
    Nó hoạt động theo cách sau: switch tính biểu thức và kiểm tra xem nó có bằng constant1 hay không, nếu đúng thì nó thực hiện block of instructions 1 cho đến khi tìm thấy từ khoá break, sau đó nhảy đến phần cuối của cấu trúc lựa chọn switch.
    Còn nếu không, switch sẽ kiểm tra xem biểu thức có bằng constant2 hay không. Nếu đúng nó sẽ thực hiện block of instructions 2 cho đến khi tìm thấy từ khoá break.
    Cuối cùng, nếu giá trị biểu thức không bằng bất kì hằng nào được chỉ định ở trên (bạn có thể chỉ định bao nhiêu câu lệnh case tuỳ thích), chương trình sẽ thực hiện các lệnh trong phần default: nếu nó tồn tại vì phần này không bắt buộc phải có.
    Hai đoạn mã sau là tương đương:
    ví dụ switch
    C++ Code:
    1. switch (x) {
    2.   case 1:
    3.     cout << "x is 1";
    4.     break;
    5.   case 2:
    6.     cout << "x is 2";
    7.     break;
    8.   default:
    9.     cout << "value of x unknown";
    10.   }
    if-else tương đương
    C++ Code:
    1. if (x == 1) {
    2.   cout << "x is 1";
    3.   }
    4. else if (x == 2) {
    5.   cout << "x is 2";
    6.   }
    7. else {
    8.   cout << "value of x unknown";
    9.   }
    Tôi đã nói ở trên rằng cấu trúc của lệnh switch hơi đặc biệt. Chú ý sự tồn tại của lệnh break ở cuối mỗi khối lệnh. Điều này là cần thiết vì nếu không thì sau khi thực hiện block of instructions 1 chương trình sẽ không nhảy đến cuối của lệnh switch mà sẽ thực hiện các khối lệnh tiếp theo cho đến khi nó tìm thấy lệnh break đầu tiên. Điều này khiến cho việc đặt cặp ngoặc nhọn { } trong mỗi trường hợp là không cần thiết và có thể được dùng khi bạn muốn thực hiện một khối lệnh cho nhiều trường hợp khác nhau, ví dụ:
    C++ Code:
    1. switch (x) {
    2.   case 1:
    3.   case 2:
    4.   case 3:
    5.     cout << "x is 1, 2 or 3";
    6.     break;
    7.   default:
    8.     cout << "x is not 1, 2 nor 3";
    9.   }
    Chú ý rằng lệnh switch chỉ có thể được dùng để so sánh một biểu thức với các hằng. Vì vậy chúng ta không thể đặt các biến (case (n*2) hay các khoảng (case (1..3) vì chúng không phải là các hằng hợp lệ.

    Nếu bạn cần kiểm tra các khoảng hay nhiều giá trị không phải là hằng số hãy kết hợp các lệnh if và else if
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi kitti : 22-02-2011 lúc 09:54 PM. Lý do: Đưa code vào tag code, và chỉnh tiêu đề bài viết

  8. #8
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Bây giờ đã đủ điều kiện làm thử các bài tập dùng lệnh lặp, rẽ nhánh, toán tử ... rồi.
    Sau đây là các bài tập:
    1. Viết chương trình tìm ước số chung lớn nhất của 1 số.
    2. Viết chương trình tìm bội số chung nhỏ nhất của 1 số.
    3. Viết ctrình nhập vào 1 số, tính xem nó có phải là số nguyên tố ko?
    4. Viết ctrình nhập vào 1 số, tính xem có tất cả bao nhiêu số nguyên tố nhỏ hơn nó.
    5. Viết ctrình nhập vào 1 số xuất ra nó có phải là số hoàn hảo hay không (số hoàn hảo là số có tổng các ước số bằng chính nó).
    6. Nhập vào 1 số, tìm tất cả các số hoàn hảo nhỏ hơn nó (cái này làm tạm, nhưng sau đó phải tối ưu hơi mệt áh)

    Các bài này là những bài cơ bản. Phải cố gắng tự làm để nắm bắt kỹ cấu trúc viết ctrình và những thuật toán cơ bản nhé.
    Muốn tham khảo thì code những bài này trog forums nhiều lắm. Các bạn tìm hiểu thêm nhé.
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi hung.tran : 28-11-2007 lúc 07:54 PM.

  9. #9
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Thumbs down Sử dụng hàm trong lập trình C++

    Cuối tuần vừa qua vì bị overtime nên không post bài được. Hôm nay làm 1 tí
    Bài 5 : Hàm (I)
    Hàm là một khối lệnh được thực hiện khi nó được gọi từ một điểm khác của chương trình. Dạng thức của nó như sau:
    C++ Code:
    1. type name ( argument1, argument2, ...) statement
    trong đó:
    Code:
    type là kiểu dữ liệu được trả về của hàm
    name là tên gọi của hàm.
    arguments là các tham số (có nhiều bao nhiêu cũng được tuỳ theo nhu cầu).
    Một tham số bao gồm tên kiểu dữ liệu sau đó là tên của tham số giống như khi khai báo biến (ví dụ int x) và đóng vai trò bên trong hàm như bất kì biến nào khác. Chúng dùng để truyền tham số cho hàm khi nó được gọi. Các tham số khác nhau được ngăn cách bởi các dấu phẩy.
    statement là thân của hàm. Nó có thể là một lệnh đơn hay một khối lệnh.
    Dưới đây là ví dụ đầu tiên về hàm:
    C++ Code:
    1. // function example
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. int addition (int a, int b)
    5. {
    6.   int r;
    7.   r=a+b;
    8.   return (r);
    9. }
    10.  
    11. int main ()
    12. {
    13.   int z;
    14.   z = addition (5,3);
    15.   cout << "The result is " << z;
    16.   return 0;
    17. }
    Kết quả: The result is 8
    Để có thể hiểu được đoạn mã này, trước hết hãy nhớ lại những điều đã nói ở bài đầu tiên: một chương trình C++ luôn bắt đầu thực hiện từ hàm main. Vì vậy chúng ta bắt đầu từ đây.
    Chúng ta có thể thấy hàm main bắt đầu bằng việc khai báo biến z kiểu int. Ngay sau đó là một lời gọi tới hàm addition. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy sự tương tự giữa cấu trúc của lời gọi hàm với khai báo của hàm:

    Các tham số có vai trò thật rõ ràng. Bên trong hàm main chúng ta gọi hàm addition và truyền hai giá trị: 5 và 3 tương ứng với hai tham số int a và int b được khai báo cho hàm addition.
    Vào thời điểm hàm được gọi từ main, quyền điều khiển được chuyển sang cho hàm addition. Giá trị của c hai tham số (5 và 3) được copy sang hai biến cục bộ int a và int b bên trong hàm.
    Dòng lệnh sau:
    C++ Code:
    1. return (r);
    kết thúc hàm addition, và trả lại quyền điều khiển cho hàm nào đã gọi nó (main) và tiếp tục chương trình ở cái điểm mà nó bị ngắt bởi lời gọi đến addition. Nhưng thêm vào đó, giá trị được dùng với lệnh return (r) chính là giá trị được trả về của hàm.

    Giá trị trả về bởi một hàm chính là giá trị của hàm khi nó được tính toán. Vì vậy biến z sẽ có có giá trị được trả về bởi addition (5, 3), đó là 8.

    Phạm vi hoạt động của các biến [nhắc lại]
    Bạn cần nhớ rằng phạm vi hoạt động của các biến khai báo trong một hàm hay bất kì một khối lệnh nào khác chỉ là hàm đó hay khối lệnh đó và không thể sử dụng bên ngoài chúng. Ví dụ, trong chương trình ví dụ trên, bạn không thể sử dụng trực tiếp các biến a, b hay r trong hàm main vì chúng là các biến cục bộ của hàm addition. Thêm vào đó bạn cũng không thể sử dụng biến z trực tiếp bên trong hàm addition vì nó làm biến cục bộ của hàm main.
    Tuy nhiên bạn có thể khai báo các biến toàn cục để có thể sử dụng chúng ở bất kì đâu, bên trong hay bên ngoài bất kì hàm nào. Để làm việc này bạn cần khai báo chúng bên ngoài mọi hàm hay các khối lệnh, có nghĩa là ngay trong thân chương trình.
    Đây là một ví dụ khác về hàm:
    C++ Code:
    1. // function example
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. int subtraction (int a, int b)
    5. {
    6.   int r;
    7.   r=a-b;
    8.   return (r);
    9. }
    10.  
    11. int main ()
    12. {
    13.   int x=5, y=3, z;
    14.   z = subtraction (7,2);
    15.   cout << "The first result is " << z << '\n';
    16.   cout << "The second result is " << subtraction (7,2) << '\n';
    17.   cout << "The third result is " << subtraction (x,y) << '\n';
    18.   z= 4 + subtraction (x,y);
    19.   cout << "The fourth result is " << z << '\n';
    20.   return 0;
    21. }
    Kết quả
    The first result is 5
    The second result is 5
    The third result is 2
    The fourth result is 6

    Trong trường hợp này chúng ta tạo ra hàm subtraction. Chức năng của hàm này là lấy hiệu của hai tham số rồi trả về kết quả.
    Tuy nhiên, nếu phân tích hàm main các bạn sẽ thấy chương trình đã vài lần gọi đến hàm subtraction. Tôi đã sử dụng vài cách gọi khác nhau để các bạn thấy các cách khác nhau mà một hàm có thể được gọi.
    Để có hiểu cặn kẽ ví dụ này bạn cần nhớ rằng một lời gọi đến một hàm có thể hoàn toàn được thay thế bởi giá trị của nó.
    Ví dụ trong lệnh gọi hàm đầu tiên :
    C++ Code:
    1. z = subtraction (7,2);
    2. cout << "The first result is " << z;
    Nếu chúng ta thay lời gọi hàm bằng giá trị của nó (đó là 5), chúng ta sẽ có:
    C++ Code:
    1. z = 5;
    2. cout << "The first result is " << z;
    Tương tự như vậy
    C++ Code:
    1. cout << "The second result is " << subtraction (7,2);
    cũng cho kết quả giống như hai dòng lệnh trên nhưng trong trường hợp này chúng ta gọi hàm subtraction trực tiếp như là một tham số của cout. Chúng ta cũng có thể viết:
    C++ Code:
    1. cout << "The second result is " << 5;
    vì 5 là kết quả của subtraction (7,2).
    Còn với lệnh
    C++ Code:
    1. cout << "The third result is " << subtraction (x,y);
    Điều mới mẻ duy nhất ở đây là các tham số của subtraction là các biến thay vì các hằng. Điều này là hoàn toàn hợp lệ. Trong trường hợp này giá trị được truyền cho hàm subtraction là giá trị của x and y.
    Trường hợp thứ tư cũng hoàn toàn tương tự. Thay vì viết
    C++ Code:
    1. z = 4 + subtraction (x,y);
    chúng ta có thể viết:
    Code:
    z = subtraction (x,y) + 4;
    cũng hoàn toàn cho kết quả tương đương. Chú ý rằng dấu chấm phẩy được đặt ở cuối biểu thức chứ không cần thiết phải đặt ngay sau lời gọi hàm.
    Các hàm không kiểu. Cách sử dụng void.
    Nếu bạn còn nhớ cú pháp của một lời khai báo hàm:
    C++ Code:
    1. type name ( argument1, argument2 ...) statement
    bạn sẽ thấy rõ ràng rằng nó bắt đầu với một tên kiểu, đó là kiểu dữ liệu sẽ được hàm trả về bởi lệnh return. Nhưng nếu chúng ta không muốn trả về giá trị nào thì sao ?
    Hãy tưởng tượng rằng chúng ta muốn tạo ra một hàm chỉ để hiển thị một thông báo lên màn hình. Nó không cần trả về một giá trị nào cả, hơn nữa cũng không cần nhận tham số nào hết. Vì vậy người ta đã nghĩ ra kiểu dữ liệu void trong ngôn ngữ C. Hãy xem xét chương trình sau:
    C++ Code:
    1. // void function example
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. void dummyfunction (void)
    5. {
    6.   cout << "I'm a function!";
    7. }
    8.  
    9. int main ()
    10. {
    11.   dummyfunction ();
    12.   return 0;
    13. }
    Kết quả : I'm a function!
    Từ khoá void trong phần danh sách tham số có nghĩa là hàm này không nhận một tham số nào. Tuy nhiên trong C++ không cần thiết phải sử dụng void để làm điều này. Bạn chỉ đơn giản sử dụng cặp ngoặc đơn ( ) là xong.
    Bởi vì hàm của chúng ta không có một tham số nào, vì vậy lời gọi hàm dummyfunction sẽ là :
    C++ Code:
    1. dummyfunction ();
    Hai dấu ngoặc đơn là cần thiết để cho trình dịch hiểu đó là một lời gọi hàm chứ không phải là một tên biến hay bất kì dấu hiệu nào khác.
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi kitti : 22-02-2011 lúc 09:53 PM. Lý do: Đưa code vào tag code, và chỉnh tiêu đề bài viết

  10. #10
    Ngày gia nhập
    11 2007
    Bài viết
    40

    Thumbs down Hàm trong lập trình C++

    Thời gian cuối năm cực kỳ bận nên mãi 1 tuần mới đưa bài lên được. Hôm nay cũng ráng làm 1 cái.

    Bài 6 : Hàm (II)
    Truyền tham số theo tham số giá trị hay tham số biến.
    Cho đến nay, trong tất cả các hàm chúng ta đã biết, tất cả các tham số truyền cho hàm đều được truyền theo giá trị. Điều này có nghĩa là khi chúng ta gọi hàm với các tham số, những gì chúng ta truyền cho hàm là các giá trị chứ không phải bản thân các biến. Ví dụ, giả sử chúng ta gọi hàm addition như sau:
    C++ Code:
    1. int x=5, y=3, z;
    2. z = addition ( x , y );
    Trong trường hợp này khi chúng ta gọi hàm addition thì các giá trị 5 and 3 được truyền cho hàm, không phải là bản thân các biến.

    Đến đây các bạn có thể hỏi tôi: Như vậy thì sao, có ảnh hưởng gì đâu ? Điều đáng nói ở đây là khi các bạn thay đổi giá trị của các biến a hay b bên trong hàm thì các biến x và y vẫn không thay đổi vì chúng đâu có được truyền cho hàm chỉ có giá trị của chúng được truyền mà thôi.
    Hãy xét trường hợp bạn cần thao tác với một biến ngoài ở bên trong một hàm. Vì vậy bạn sẽ phải truyền tham số dưới dạng tham số biến như ở trong hàm duplicate trong ví dụ dưới đây:
    C++ Code:
    1. // passing parameters by reference
    2. #include <iostream.h>
    3. void duplicate (int& a, int& b, int& c)
    4. {
    5.   a*=2;
    6.   b*=2;
    7.   c*=2;
    8. }
    9. int main ()
    10. {
    11.   int x=1, y=3, z=7;
    12.   duplicate (x, y, z);
    13.   cout << "x=" << x << ", y=" << y << ", z=" << z;
    14.   return 0;
    15. }
    Kết quả: x=2, y=6, z=14
    Điều đầu tiên làm bạn chú ý là trong khai báo của duplicate theo sau tên kiểu của mỗi tham số đều là dấu và (&), để báo hiệu rằng các tham số này được truyền theo tham số biến chứ không phải tham số giá trị.
    Khi truyền tham số dưới dạng tham số biến chúng ta đang truyền bản thân biến đó và bất kì sự thay đổi nào mà chúng ta thực hiện với tham số đó bên trong hàm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biến đó.

    Trong ví dụ trên, chúng ta đã liên kết a, b và c với các tham số khi gọi hàm (x, y và z) và mọi sự thay đổi với a bên trong hàm sẽ ảnh hưởng đến giá trị của x và hoàn toàn tương tự với b và y, c và z.
    Kiểu khai báo tham số theo dạng tham số biến sử dụng dấu và (&) chỉ có trong C++. Trong ngôn ngữ C chúng ta phải sử dụng con trỏ để làm việc tương tự như thế.
    Truyền tham số dưới dạng tham số biến cho phép một hàm trả về nhiều hơn một giá trị. Ví dụ, đây là một hàm trả về số liền trước và liền sau của tham số đầu tiên.
    C++ Code:
    1. // more than one returning value
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. void prevnext (int x, int& prev, int& next)
    5. {
    6.   prev = x-1;
    7.   next = x+1;
    8. }
    9.  
    10. int main ()
    11. {
    12.   int x=100, y, z;
    13.   prevnext (x, y, z);
    14.   cout << "Previous=" << y << ", Next=" << z;
    15.   return 0;
    16. }
    Kết quả: Previous=99, Next=101
    Giá trị mặc định của tham số.
    Khi định nghĩa một hàm chúng ta có thể chỉ định những giá trị mặc định sẽ được truyền cho các đối số trong trường hợp chúng bị bỏ qua khi hàm được gọi. Để làm việc này đơn giản chỉ cần gán một giá trị cho đối số khi khai báo hàm. Nếu giá trị của tham số đó vẫn được chỉ định khi gọi hàm thì giá trị mặc định sẽ bị bỏ qua.
    Ví dụ:
    C++ Code:
    1. // default values in functions
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. int divide (int a, int b=2)
    5. {
    6.   int r;
    7.   r=a/b;
    8.   return (r);
    9. }
    10.  
    11. int main ()
    12. {
    13.   cout << divide (12);
    14.   cout << endl;
    15.   cout << divide (20,4);
    16.   return 0;
    17. }
    Kết quả: 6 5
    Nhưng chúng ta thấy trong thân chương trình, có hai lời gọi hàm divide. Trong lệnh đầu tiên:
    divide (12)
    chúng ta chỉ dùng một tham số nhưng hàm divide cho phép đến hai. Bởi vậy hàm divide sẽ tự cho tham số thứ hai giá trị bằng 2 vì đó là giá trị mặc định của nó (chú ý phần khai báo hàm được kết thúc bởi int b=2). Vì vậy kết quả sẽ là 6 (12/2).
    Trong lệnh thứ hai:
    divide (20,4)
    có hai tham số, bởi vậy giá trị mặc định sẽ được bỏ qua. Kết quả của hàm sẽ là 5 (20/4).
    Quá tải các hàm.
    Hai hàm có thể có cũng tên nếu khai báo tham số của chúng khác nhau, điều này có nghĩa là bạn có thể đặt cùng một tên cho nhiều hàm nếu chúng có số tham số khác nhau hay kiểu dữ liệu của các tham số khác nhau (hay thậm chí là kiểu dữ liệu trả về khác nhau).
    Ví dụ:
    C++ Code:
    1. // overloaded function
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. int divide (int a, int b)
    5. {
    6.   return (a/b);
    7. }
    8.  
    9. float divide (float a, float b)
    10. {
    11.   return (a/b);
    12. }
    13.  
    14. int main ()
    15. {
    16.   int x=5,y=2;
    17.   float n=5.0,m=2.0;
    18.   cout << divide (x,y);
    19.   cout << "\n";
    20.   cout << divide (n,m);
    21.   return 0;
    22. }
    Kết quả: 2 2.5
    Trong ví dụ này chúng ta định nghĩa hai hàm có cùng tên nhưng một hàm dùng hai tham số kiểu int và hàm còn lại dùng kiểu float. Trình biên dịch sẽ biết cần phải gọi hàm nào bằng cách phân tích kiểu tham số khi hàm được gọi.
    Để đơn giản tôi viết cả hai hàm đều có mã lệnh như nhau nhưng điều này không bắt buộc. Bạn có thể xây dựng hai hàm có cùng tên nhưng hoạt động hoàn toàn khác nhau.
    Các hàm inline.
    Chỉ thị inline có thể được đặt trước khao báo của một hàm để chỉ rõ rằng lời gọi hàm sẽ được thay thế bằng mã lệnh của hàm khi chương trình được dịch. Việc này tương đương với việc khai báo một macro, lợi ích của nó chỉ thể hiện với các hàm rất ngắn, tốc độ chạy chương trình sẽ được cải thiện vì nó không phải gọi một thủ tục con.
    Cấu trúc của nó như sau:
    Code:
    inline type name ( arguments ... ) { instructions ... }
    lời gọi hàm cũng như bất kì một hàm nào khác. Không cần thiết phải đặt từ khoá inline trong lệnh gọi, chỉ cần trong lời khai báo hàm là đủ.
    Đệ qui.
    Các hàm có thể gọi chính nó. Điều này có thể có ích với một số tác vụ như là một số phương pháp sắp xếp hay tính giai thừa của một số. Ví dụ, để tính giai thừa của một số (n), công thức toán học của nó như sau:
    C++ Code:
    1. n! = n * (n-1) * (n-2) * (n-3) ... * 1
    và một hàm đệ qui để tính toán sẽ như sau:
    C++ Code:
    1. // factorial calculator
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. long factorial (long a)
    5. {
    6.   if (a > 1)
    7.    return (a * factorial (a-1));
    8.   else
    9.    return (1);
    10. }
    11.  
    12. int main ()
    13. {
    14.   long l;
    15.   cout << "Type a number: ";
    16.   cin >> l;
    17.   cout << "!" << l << " = " << factorial (l);
    18.   return 0;
    19. }
    Kết quả: Type a number: 9 !9 = 362880
    Chú ý trong hàm factorial chúng ta có thể lệnh gọi chính nó nhưng chỉ khi tham số lớn hơn 1, nếu không thì hàm sẽ thực hiện một vòng lặp vô hạn vì sau khi đến 0 nó sẽ tiếp tục nhân cả những số âm.
    Hàm này có một hạn chế là kiểu dữ liệu mà nó dùng (long) không cho phép tính giai thừa quá 12!.
    Khai báo mẫu cho hàm.
    Cho đến giờ chúng ta hoàn toàn phải định nghĩa hàm trước lệnh gọi đầu tiên đến nó, mà thường là trong main, vì vậy hàm main luôn phải nằm cuối chương trình. Nếu bạn thử lặp lại một vài ví dụ về hàm trước đây nhưng thử đặt hàm main trước bất kì một hàm được gọi từ nó, bạn gần như chắc chắn sẽ nhận được thông báo lỗi. Nguyên nhân là một hàm phải được khai báo trước khi nó được gọi như nhưnggx gì chúng ta đã làm trng tất cả các ví dụ.
    Nhưng có một cách khác để tránh phải viết tất cả mã chương trình trước khi chúng có thể được dùng trong main hay bất kì một hàm nào khác. Đó chính là khai báo mẫu cho hàm. Cách này bao gồm việc khai báo hàm một cách ngắn gọn nhưng đủ để cho trình dịch có thể biết các tham số và kiểu dữ liệu trả về của hàm.
    Dạng của nó như sau:
    C++ Code:
    1. type name ( argument_type1, argument_type2, ...);
    Đây chính là phần đầu của định nghĩa hàm, ngoại trừ:
    • Nó không có bất kì lệnh nào cho hàm. Điều này có nghĩa là nó không bao gồm thân hàm với tất cả các lệnh thường được bọc trong cặp ngoặc nhọn { }.
    • Nó kết thúc bằng dấu chấm phẩy (.
    • Trong phần liệt kê các tham số chỉ cần viết kiểu của chúng là đủ. Việc viết tên của các tham số trong phần khai báo mẫu là không bắt buộc.
    Ví dụ:
    C++ Code:
    1. // prototyping
    2. #include <iostream.h>
    3.  
    4. void odd (int a);
    5. void even (int a);
    6.  
    7. int main ()
    8. {
    9.   int i;
    10.   do {
    11.     cout << "Type a number: (0 to exit)";
    12.     cin >> i;
    13.     odd (i);
    14.   } while (i!=0);
    15.   return 0;
    16. }
    17.  
    18. void odd (int a)
    19. {
    20.   if ((a%2)!=0) cout << "Number is odd.\n";
    21.   else even (a);
    22. }
    23.  
    24. void even (int a)
    25. {
    26.   if ((a%2)==0) cout << "Number is even.\n";
    27.   else odd (a);
    28. }
    Kết quả: Type a number (0 to exit): 9
    Number is odd.
    Type a number (0 to exit): 6
    Number is even.
    Type a number (0 to exit): 1030
    Number is even.
    Type a number (0 to exit): 0
    Number is even.
    Ví dụ này rõ ràng không phải là một ví dụ về sự hiệu quả. Tôi chắc chắn rằng các bạn có thể nhận được kết quả như trên chỉ với một nửa số dòng lệnh. Tuy nhiên nó giúp cho chúng ta thấy được việc khai báo mẫu các hàm là như thế nào. Hơn nữa, trong ví dụ này việc khai báo mẫu ít nhất một hàm là bắt buộc.
    Đầu tiên chúng ta thấy khai báo mẫu của hai hàm odd và even:
    C++ Code:
    1. void odd (int a);
    2. void even (int a);
    cho phép hai hàm này có thể được sử dụng trước khi chúng được định nghĩa hoàn chỉnh. Tuy nhiên lý do đặc biệt giải thích tại sao chương trình này lại cần ít nhất một hàm phải được khi báo mẫu là trong odd có một lời gọi đến even và trong even có một lời gọi đến odd. Vì vậy nếu không có hàm nào được khai báo trước thì lỗi chắc chắn sẽ xẩy ra.
    Rất nhiều lập trình viên kinh nghiệm khuyên rằng tất cả các hàm nên được khai báo mẫu. Đó cũng là lời khuyên của tôi, nhất là trong trường hợp có nhiều hàm hoặc chúng rất dài, khi đó việc khai báo tất cả các hàm ở cùng một chỗ cho phép chúng ta biết phải gọi các hàm như thế nào, vì vậy tiết kiệm được thời gian.
    Đã được chỉnh sửa lần cuối bởi kitti : 22-02-2011 lúc 09:52 PM. Lý do: Đưa code vào tag code, và chỉnh tiêu đề bài viết

Các đề tài tương tự

  1. Mu Online 2013 - Mu Mới Ra - Mu Mới Open - Mu Việt Online
    Gửi bởi 210794 trong diễn đàn Giới thiệu website, sản phẩm của bạn
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 27-03-2013, 11:12 PM
  2. Mu mới ra - Mu Mới - Mu Online 2013 Mu Viêt Online
    Gửi bởi 210794 trong diễn đàn Giới thiệu website, sản phẩm của bạn
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 24-03-2013, 06:11 PM
  3. Iwin online - game online dành cho di động
    Gửi bởi gaphonui trong diễn đàn Giới thiệu website, sản phẩm của bạn
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 23-11-2012, 02:14 AM
  4. [wap Game Online] Thần chiến Online game hot nhất châu âu đã về Việt Nam
    Gửi bởi susu88 trong diễn đàn Giới thiệu website, sản phẩm của bạn
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 12-11-2012, 10:55 AM
  5. Compile online cho C# | Online compiler for C#
    Gửi bởi dieucay555 trong diễn đàn Công cụ, ebooks C#, ASP.NET, và Windows Mobile
    Trả lời: 3
    Bài viết cuối: 26-12-2011, 12:31 PM

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không thể gửi đề tài mới
  • Bạn không thể gửi bài trả lời
  • Bạn không thể gửi các đính kèm
  • Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn